TRUNG QUỐC

1. BẮC KINH

Bắc Kinh (chữ Hán: 北京, Bính âm: Běijīng, Wade-Giles: Pei-ching, dạng khác: Peking) là thủ đô của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, là một trong bốn thành phố trực thuộc trung ương của Trung Quốc và là thành phố lớn thứ nhì của nước này về dân số, sau Thượng Hải. Bắc Kinh được xem như trung tâm chính trị, văn hoágiáo dục của Trung Quốc, trong khi Hồng KôngThượng Hải vượt trội trong lĩnh vực kinh tế.

Tên gọi

Bắc Kinh (北京) có nghĩa là "Kinh đô phía Bắc", phù hợp với truyền thống chung của Đông Á khi kinh đô được dứt khoát đặt tên như chính nó. Các thành phố có kiểu tên tương tự là Nam Kinh (南京, có nghĩa là "Kinh đô phía Nam"), Tokyo (東京, "Đông Kinh" theo chữ Hán), Đông Kinh (東京, có nghĩa là "Kinh đô phía Đông", ngày nay là Hà Nội); cũng như Kyoto (, "Kinh Đô") và Kinh Thành (, có nghĩa là "kinh đô", ngày nay là Seoul).

Trung Quốc, thành phố này có nhiều lần được có nhiều tên. Giữa thời gian từ 1368 đến 1405, và sau đó lại một lần nữa từ 1928 [1] và 1949, thành phố này có tên là Bắc Bình (; Pinyin: Beiping; Wade-Giles: Pei-p'ing), có nghĩa "hòa bình phía Bắc" hay "bình định phía Bắc". Trong cả hai trường hợp, tên được đổi - bằng cách bỏ từ "kinh" - để phản ánh hiện thực là kinh đô đất nước đã chuyển đến Nam Kinh, lần đầu tiên dưới thời Hongwu Hoàng đế thời nhà Minh, và lần thứ hai dưới thời chính phủ Quốc Dân Đảng của Trung Hoa Dân Quốc, lúc đó Bắc Kinh không phải là kinh đô của Trung Hoa.

Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chuyển thủ đô về Bắc Kinh năm 1949 một lần nữa một phần để nhấn mạnh rằng Bắc Kinh đã trở lại vai trò thủ đô Trung Quốc của mình. Chính phủ của Trung Hoa Dân quốcĐài Loan chưa bao giờ công nhận chính thức việc đổi tên này và trong thập niên 1950thập niên 1960 phổ biến ở Đài Loan gọi Bắc Kinh là Bắc Bình để ám chỉ tính bất hợp pháp của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ngày nay, phần lớn Đài Loan, kể cả chính phủ Đài Loan đều sử dụng tên gọi Bắc Kinh, dù một số bản đồ của Trung Quốc từ Đài Loan vẫn sử dụng tên gọi cũ cùng với biên giới chính trị cũ.

Yên Kinh (; Bính âm: Yānjīng; Wade-Giles: Yen-ching) cũng là một tên phổ biến khác không chính thức của Bắc Kinh, liên hệ đến nước Yên đã tồn tại ở đây từ thời nhà Chu. Tên này hiện được một số tổ chức sử dụng làm tên thương hiệu như bia Yến Kinh, Đại học Yến Kinh, một trường đại học đã bị sáp nhập vào Đại học Bắc Kinh. Trong thời nhà Nguyên, Bắc Kinh được gọi là Khanbaliq.

Lịch sử

Các khu định cư ở gần khu vực Bắc Kinh ngày nay có đã được hình thành khoảng năm 3000 trước Công nguyên. Vị trí của các khu vực định cư này ở mạn phía Bắc của Bình nguyên Hoa Bắc, là một nơi giao điểm quan trọng về địa lý và chính trị của các cộng đồng cư dân người Hán các phía Nam và Tây và đối với các nhóm dân du mục ở phía Bắc và Đông Bắc. Nhà Chu (1045 ? – 256 trước Công nguyên) đã xây dựng một kinh đô ở đây. Vào thế kỷ thứ 10, những người Mông Cổ Khitan từ Đông Bắc đã chiếm phần phía Bắc của Trung Hoa và thành lập kinh đô phía Nam của họ tại nơi là Bắc Kinh ngày nay. Khi quân Mông Cổ thôn tín Trung Hoa vào thế kỷ 13 và thiết lập nên nhà Nguyên, Kublai Khan đã quyết định lập kinh đô tịa Bắc Kinh năm 1272 và lần đầu tiên, kinh đô mới được đặt tên là Khanbalik, đã trở thành một kinh đô hành chính và chính trị cho toàn Trung Hoa. Năm 1368, Chu Nguyên Chương đã thiết lập nên nhà Minh và chọn Nam Kinh làm kinh đô. Ông đã ngay lập tức tàn phá kinh đô của nhà Nguyên và đổi tên thành phố là Bắc Bình (phía Bắc bình yên). Sau cái chết của Chu Nguyên Chương năm 1398, một cuộc tranh giành ngôi giữa cháu nội Chu Nguyên Chương (là con trai của con trai cả Zhu đã mất) - người được truyền ngôi và con trai thứ hai của Chu Nguyên Chương - người đã giành được ngôi báu và lên ngôi hoàng đế và chuyển kinh đô nhà Minh đến Bắc Bình năm 1420 và đổi tên thành này thành Bắc Kinh. Thành phố đã phát triển với những bố cục cơ bản như ngày nay đã được thực hiện vào thời đó. Thời nhà Thanh (1644-1911) đã cho xây thêm nhiều đền đài, công trình.

Sau khi nhà Thanh bị lật đổ và Cộng hoà Trung Hoa được thành lập năm 1911, Bắc Kinh vẫn là trung tâm chính trị của Trung Quốc cho đến năm 1911. Quốc Dân Đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu đã dời thủ đô đến Nam Kinh và đổi tên Bắc Kinh thành Bắc Bình. Trong Thế chiến tranh thứ hai, thành phố đã bị quân Nhật Bản chiếm đóng từ năm 1937 đến 1945 nhưng không bị phá hoại nhiều. Sau khi phe của Mao Trạch Đông lên nắm quyền năm 1949, thành phố được đổi tên thành Bắc Kinh và được chọn làm thủ đô của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mới thành lập.

Năm 2001, Ủy ban Olympic Quốc tế đã chọn Bắc Kinh làm nơi tổ chức Thế vận hội mùa Hè 2008.

Kinh tế

Năm 2005, GDP danh nghĩa của Bắc Kinh là 681,45 tỷ nhân dân tệ (tương đương khoảng 84 tỷ USD), tăng trưởng GDP hàng năm là 11,1%. GDP đầu người là 44.969 Nhân dân tệ (5545 USD), tăng 8,1% so với năm 2004, gấp đôi năm 2000. Các ngành sơ cấp, thứ cấp, đệ tam cấp của Bắc Kinh có trị giá trị lần lượt là 9,77 tỷ nhân dân tệ, 210,05 tỷ nhân dân tệ và 461,63 nhân dân tệ. Thu nhập khả dụng (thu nhập sau thuế) của nội ô đầu người là 17.653 nhân dân tệ (tương đương 2176 USD/năm), tăng thực tế 12,9% so với năm trước. Thu nhập khả dụng dân nông thôn là 7.860 nhân dân tệ, tăng thực tế 9,6%. Thu nhập thực tế của 20% dân thu nhập thấp tăng 16,7%, 11,4% cao hơn mức 20% của 20% dân có thu nhập cao. Hệ số Engel của cư dân đô thị Bắc Kinh đạt 31,8% năm 2005 và của nông thôn là 32,8%, giảm 4,5 điểm % và 3,9 điểm % cho mỗi nhóm so với năm 2000[2].

Các lĩnh vực bất động sảnô tô tiếp tục bùng nổ trong những năm gần đây. Năm 2005, tổng số 28,032 triệu m² nhà đã được bán ra với giá 175,88 tỷ nhân dân tệ (20 tỷ USD). Số ô tô đã được đăng ký ở Bắc Kinh năm 2004 là 2.146.000 chiếc, trong đó có 1.540.000 chiếc là của tư nhân (tăng 18,7% so với năm trước)[3].

Thượng Hải được xem là trung tâm kinh tế của Trung Quốc, điều này dựa trên cơ sở các doanh nghiệp lớn đóng ở đó, hơn là một trung tâm của các doanh nghiệp Trung Quốc.

Sự phát triển của Bắc Kinh tiếp tục diễn ra với nhịp độ cao và sự mở rộng rộng lớn của Bắc Kinh đã tạo ra một loạt vấn đề cho thành phố. Bắc Kinh được biết đến vì sương khói cũng như các chương trình "tiết kiệm điện" thường xuyên do chính quyền đặt ra. Du khách cũng như cư dân Bắc Kinh thường xuyên than phiền chất lượng cấp nước và chi phí các dịch vụ cơ bản như điện và khí đốt. Các khu vực công nghiệp lớn ngoài Bắc Kinh đã được lệnh di dời khỏi khu vực Bắc Kinh để giảm khói mù bao phủ thành phố. Phần lớn các nhà máy, không thể nâng cấp công nghệ, đã rời khỏi Bắc Kinh đế Tây An.

CÁC DI TÍCH:

DI HÒA VIÊN:

Di Hoà Viên (tiếng Trung: 颐和园/頤和園; bính âm: Yíhé Yuán) là một cung điện được xây dựng từ thời nhà Thanh, nằm cách Bắc Kinh 15 km về hướng tây bắc. Di Hoà Viên (nghĩa đen là "vườn nuôi dưỡng sự ôn hoà") đến nay vẫn còn được bảo tồn tốt. Nơi đây nổi tiếng về nghệ thuật hoa viên truyền thống của Trung Quốc.

Lịch sử

Di Hoà Viên có lịch sử tồn tại trên 800 năm với nhiều tên gọi khác nhau. Đầu đời nhà Tấn, một cung điện tên là Kim Sơn Cung đã được xây dựng tại nơi mà ngày nay là Di Hoà Viên. Năm 1750, vua Càn Long xây Thanh Y Viên tại khu vực này để mừng sinh nhật mẹ ông. Năm 1860, trong Chiến tranh Nha Phiến, liên quân Anh - Pháp bắn phá khiến Thanh Y Viên bị hư hại nặng. 28 năm sau, Từ Hi Thái Hậu lấy ngân quỹ vốn dùng để hiện đại hoá hải quân ra trùng tu hoa viên trong vòng 10 năm và đặt tên là Di Hoà Viên. Năm 1900, trong loạn Quyền Phỉ, liên quân 8 nước lại phá hoại hoa viên lần nữa. Khi Từ Hi hồi cung tại Bắc Kinh năm 1903, bà cho đại trùng tu hoa viên.

Kiến trúc

Hai cảnh nổi bật ở Di Hoà Viên là Vạn Thọ Sơn và hồ Côn Minh. Hoa viên rộng 294 mẫu, trong đó diện tích hồ chiếm 220 mẫu. Vườn chia làm ba khu vực: khu hành chính (chủ yếu là Nhân Thọ Điện - nơi Từ Hi tiếp các quan lại và giải quyết quốc sự), khu nghỉ ngơi (gồm các điện và vườn hoa) và khu phong cảnh.

THIÊN AN MÔN:

Quảng trường Thiên An Môn

 

Quảng trường Thiên An Môn

Quảng trường Thiên An Môn (chữ Hoa giản thể: 天安门广场, chữ Hoa phồn thể: 天安門廣場, pinyin: Tiān'ānmén Guǎngchǎng) là một quảng trường rất lớn tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Nó được đặt tên theo Thiên An Môn, cổng thành ở phía bắc chia cách nó với Tử Cấm Thành. Nhiều người xem nơi đây là nơi tượng trưng trung tâm của Trung Quốc. Ở ngoài Trung Quốc, quảng trường này được nhiều người biết đến qua một cuộc biểu tình trong năm 1989.


 

Sơ lược

Quảng trường được xây vào năm 1417, chiều dài 880 m nam-bắc và chiều rộng 500 m đông-tây. Do đó, diện tích của quảng trường là 440.000 mét vuông. Trong năm 1651 (đời nhà Thanh), cổng nó được tu bổ và đổi tên như bây giờ. Trong đời nhà Minh và nhà Thanh, tại Thiên An Môn không có quảng trường, thay vào đó khu vực này là các cơ sở của triều đình. Trong cuộc khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn, khu này bị thiệt hại nhiều và đã được dẹp để tạo ra quảng trường ngày nay.

Đặc trưng

Trong năm 1949 nó được nới rộng ra thành diện tích bây giờ. Ở giữa quảng trường có Bia Kỷ niệm Anh hùng Nhân dânLăng Mao Trạch Đông. Quảng trường nằm ở giữa hai cổng đồ sộ cổ xưa: phía bắc là Thiên An Môn và phía nam là Tiền Môn. Dọc theo phía tây của quảng trường là Đại hội đường Nhân dân. Dọc theo phía đông là Viện bảo tàng quốc gia về Lịch sử Trung Hoa. Đại lộ Trường An, được dùng trong các cuộc diễn hành, nằm giữa Thiên An Môn và quảng trường. Dọc theo lề phía đông và phía tây quảng trường có cây, nhưng trong quảng trường thì trống rỗng, không có cây cối hay ghế ngồi.

Quảng trường được tỏa sáng bởi những cây cột đèn lớn với máy thu hình theo dõi. Khu vực bị giám sát chặt chẽ bởi cảnh sát (có và không mặc đồng phục).

Sự kiện

Quảng trường Thiên An Môn là nơi xảy ra nhiều sự kiện chính trị như là việc Mao Trạch Đông thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào ngày 1 tháng 10 năm 1949 và các buổi mít tinh trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa. Nó cũng là nơi xảy ra nhiều phong trào phản đối, trong đó có Phong trào Ngũ Tứ (1919) đòi khoa họcdân chủ, các cuộc biểu tình trong 1976 sau cái chết của Chu Ân Lai, và các cuộc biểu tình tại Thiên An Môn trong năm 1989.

Trong cuộc biểu tình trong năm 1989, một số người biểu tình đã bị thiệt mạng trên đường về phía tây của quảng trường và một số khu vực lân cận. Một số nguồn (Graham Earnshaw [1] và Columbia Journal Review [2]) cho rằng không ai bị thiệt mạng tại quảng trường. Trong báo chí các nước Tây phương, sự kiện này được gọi là Cuộc thảm sát Quảng trường Thiên An Môn (Tiananmen Massacre). Những người chống lại phong trào đòi dân chủ tại Trung Quốc phản đối cách gọi này.

TỬ CẤM THÀNH:

Tử Cấm Thành (紫禁城) Bắc Kinh, Trung Quốc hay Cố Cung (故宮) (theo cách gọi ngày nay), nằm ngay giữa trung tâm thành phố Bắc Kinh trước đây (Tọa độ: 39°54′56″N, 116°23′27″E), là cung điện của các triều đại nhà Minhnhà Thanh Trung Quốc. Viện bảo tàng nằm trong Cố Cung được gọi là Viện bảo tàng Cố Cung (故宫博物院, Cố cung bác vật viện). Diện tích Tử Cấm Thành là 720.000 m², gồm 800 cung và 8.886 phòng. Do đó, UNESCO đã xếp Cố Cung vào loại quần thể cổ bằng gỗ lớn nhất thế giới và được công nhận là Di sản thế giới tại Trung Quốc vào năm 1987 với tên gọi là Cung điện triều Minh và triều Thanh tại Bắc Kinh và Thẩm Dương (tiếng Anh: Imperial Palace of the Ming and Qing Dynasties in Beijing and Shenyang). Khu Tử Cấm Thành tọa lạc tại chính nam của Quảng trường Thiên An Môn. Có thể đi vào Cố Cung qua Thiên An Môn. Tử Cấm Thành được hoàng thành bao bọc xung quanh.

Tử Cấm Thành được khởi công xây dựng vào năm 1406 dưới thời Vĩnh Lạc. Sau đó được Càn LongGia Khánh tu sửa lại. Các số liệu thực tế:

  • Diện tích: 250.000 m²
  • Số công trình: 800
  • Số phòng: 8.886
  • Số nhân lực ước tính: 1.000.000

Hình ảnh

Vạn Lý Trường Thành (chữ Hán giản thể: 万里长城; phồn thể: 萬里長城; Bính âm: Wànlĭ Chángchéng; có nghĩa là "Thành dài vạn dặm") là bức tường thành nổi tiếng của Trung Quốc liên tục được xây dựng bằng dất và đá từ thế kỷ 5 TCN cho tới thế kỷ 16, để bảo vệ Đế quốc Trung Quốc khỏi những cuộc tấn công của người Mông Cổ, người Turk, và những bộ tộc du mục khác đến từ những vùng hiện thuộc Mông CổMãn Châu. Một số đoạn tường thành được xây dựng từ thế kỷ thứ 5 TCN, trong đó nổi tiếng nhất là phần tường thành do Hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc là Tần Thủy Hoàng ra lệnh xây từ năm 220 TCN200 TCN, nằm ở phía bắc xa hơn phần Vạn Lý Trường Thành hiện nay của Trung Quốc xây dưới thời nhà Minh, và hiện chỉ còn sót lại ít di tích.

Bức thành trải dài 6,352 km (3,948 dặm Anh), từ Sơn Hải Quan trên bờ Biển Bột Hải ở phía đông, tại giới hạn giữa Trung Quốc bản thổ ("đất Trung Quốc gốc") và Mãn Châu, tới Lop Nur ở phần phía đông nam Khu tự trị người Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương [1].

Lịch sử

Trường thành dưới thời nhà Tần. Đỏ:thành, Cam:ranh giới quốc gia của Trung Quốc ngày nay.
Trường thành dưới thời nhà Tần. Đỏ:thành, Cam:ranh giới quốc gia của Trung Quốc ngày nay.
Trường thành dưới triều Hán.
Trường thành dưới triều Hán.
Trường thành dưới thời nhà Minh.
Trường thành dưới thời nhà Minh.
Vạn Lý Trường Thành vào mùa đông, đoạn gần Bắc Kinh
Vạn Lý Trường Thành vào mùa đông, đoạn gần Bắc Kinh

Một tường thành có tính chất phòng thủ biên giới phía bắc được xây dựng và duy trì bởi nhiều triều đại trong nhiều khoảng thời gian trong lịch sử Trung Quốc. Mục đích chính của nó là bảo vệ người Trung Quốc khỏi sự di cư của người Mông Cổ và người Thổ Nhĩ Kỳ. Có năm đoạn thành chính:

  1. 208 TCN (nhà Tần)
  2. thế kỷ thứ 1 TCN (nhà Hán)
  3. thế kỷ thứ 7 (nhà Tuỳ)
  4. 1138 - 1198 (Thời Nam Tống)
  5. 1368 - 1640 (từ vua Hồng Vũ đến vua Vạn Lịch của nhà Minh)

Đoạn tường thành chính đầu tiên được xây dựng dưới thời cai trị của Tần Thuỷ Hoàng, vị Hoàng đế đầu tiên của nhà Tần với thời gian tồn tại ngắn ngủi. Bức tường này không được xây dựng bởi nỗ lực của một nhóm mà là việc ghép nối nhiều đoạn tường thành của các vùng, từng được xây dựng ở thời Chiến Quốc, vào nhau. Bức tường được nối vào nhau ở thời gian đó làm bằng đất nện với những tháp canh được xây ở các khoảng cách đều nhau. Nó nằm xa hơn về phía bắc so với Vạn lý trường thành hiện tại với điểm cực đông nằm ở Bắc Triều Tiên hiện nay. Chỉ còn ít phần của nó còn sót lại - các bức ảnh cho thấy những ụ đất thấp, dài.

Triều đình bắt người dân phải làm việc để đắp thành, và các công nhân luôn bị nguy hiểm vì có thể bị bọn cướp tấn công. Bởi vì có nhiều người đã chết khi xây dựng thành, nó được đặt cho cái tên khủng khiếp, "Nghĩa địa dài nhất Trái đất." Có lẽ khoảng một triệu công nhân đã chết khi xây dựng bức tường thành. [2]

Bức tường dài tiếp theo được nhà Hán, nhà Tuỳ, và giai đoạn Thập Quốc xây dựng tiếp với cùng kiểu thiết kế. Nó được làm bằng đất nện với nhiều tháp canh nhiều tầng được xây cách nhau vài dặm. Các bức tường thành cũng đã bị hư hại nhiều và đã lẫn vào phong cảnh xung quanh, bị ăn mòn bởi gió và nước mưa.

Về mặt quân sự, những bức tường này có ý nghĩa về mặt phân chia ranh giới hơn là công sự bảo vệ có giá trị. Chắc chắn rằng chiến lược quân sự của Trung Quốc không diễn ra quanh việc giữ vững bức tường thành.

Vạn Lý Trường Thành ngày nay được xây ở thời nhà Minh, bắt đầu khoảng năm 1368 và kết thúc khoảng năm 1640. Trong một đoạn trong kinh Koran, các nhà địa lý Ả Rập cũng liên hệ Alexander đại đế với việc xây dựng tường thành. Bức tường này được xây với tầm vóc to lớn bằng những vật liệu tốt (đá cứng được dùng ở các bề mặt và ở trên đỉnh thành) hơn so với trước đó. Mục đích đầu tiên của bức tường là để ngăn bước những giống người bán du mục phía bên ngoài (như người Mông Cổ dưới sự chỉ huy của hãn vương AltanOirats dưới sự chỉ huy của Esen Taiji) vào cướp bóc bên trong Trung Quốc khi họ sử dụng ngựa để di chuyển; hay ngăn cản sự quay trở về của họ với những thứ cướp bóc được.

Tranh vẽ Vạn Lý Trường Thành vào năm 1900
Tranh vẽ Vạn Lý Trường Thành vào năm 1900

Vạn Lý Trường Thành thời nhà Minh bắt đầu từ điểm phía đông tại Sơn Hải Quan, gần Tần Hoàng Đảo, ở tỉnh Hà Bắc gần Vịnh Bột Hải. Kéo dài qua chín tỉnh và 100 huyện, 500km cuối cùng vẫn còn nhưng đã thành những đống gạch vụn, và hiện nay nó kết thúc ở điểm cuối phía tây di tích lịch sử Gia Dục Quan (嘉峪关), nằm ở phía tây bắc tỉnh Cam Túc tại biên giới với Sa mạc Gobi và những ốc đảo của Con đường tơ lụa. Gia Dục Quan được xây để tiếp đón những nhà du hành dọc theo Con đường tơ lụa. Mặc dù Vạn Lý Trường Thành kết thúc ở Gia Dục Quan, tại đó có rất nhiều "phong hoả đài" (烽火台) trải dài về phía Gia Dục Quan dọc theo Con đường tơ lụa. Những đài quan sát đó dùng dấu hiệu bằng khói để cảnh báo có xâm lược.

Năm 1644, người Mãn Kokes vượt qua bức tường thành bằng cách thuyết phục một vị tướng quan trọng là Ngô Tam Quế mở cửa những cánh cổng Sơn Hải Quan để cho người Mãn Châu vượt qua. Truyền thuyết kể rằng quân Mãn Châu mất ba ngày mới vượt hết qua đèo. Sau khi người Mãn Châu chinh phục Trung Quốc, bức tường thành không còn giá trị chiến lược nữa, đa phần bởi vì người Mãn Châu đã mở rộng quyền kiểm soát chính trị của họ ra xa phía bắc, còn xa hơn cả triều Trung Quốc trước đó. Xem thêm ở nhà Thanh (Mãn Châu).

Đoạn tường cuối cùng thời nhà Minh thực sự là một công sự quân sự về một số mặt. Tuy nhiên, các nhà sử học quân sự thường gạt bỏ giá trị thực của bức tường thành vĩ đại này. Người ta tốn cực kỳ nhiều tiền của và công sức để xây dựng, duy trì và đóng giữ. Số tiền nhà Minh chi phí vào bức tường này đáng ra có thể để chi vào cải thiện khả năng quân sự khác như mua pháo kiểu châu Âu hay súng trường. Sự thực là bức tường thành không hề có giá trị trong việc giúp ngăn chặn sự sụp đổ của nhà Minh.

Tình trạng

Gia Dục Quan đang được sửa chữa
Gia Dục Quan đang được sửa chữa

Trong khi một số đoạn gần các trung tâm du lịch được giữ gìn và thậm chí xây dựng lại, tại hầu hết các vị trí bức tường đang bị bỏ mặc không được sửa chữa, được dùng làm chỗ chơi cho những người dân làng và là nơi khai thác đá để làm đường hay làm nhà. Các bề mặt của tường thành còn bị sơn vẽ graffiti. Nhiều phần đã bị phá hủy vì bức thành nằm chắn đường tới các địa điểm xây dựng. Các phần không bị đụng chạm đến hay được sửa chữa là gần những điểm phát triển du lịch và thường bị những người bán hàng rong và khách du lịch làm giảm giá trị. Sa mạc Gobi cũng đang tiến sát tới bức tường thành ở một số địa điểm. Một số ước tính rằng chỉ 20% bức tường thành là đang ở tình trạng tốt. Năm 2005, các bức ảnh về một bữa tiệc điên dại trên Vạn lý trường thành xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng Trung Quốc. Chúng đã gây nên sự phẫn nộ bởi vì trong những bức ảnh do người nước ngoài, và người Trung Quốc chụp, những thanh niên uống rượu bia, đi tiểu tiện, đại tiện và có những hành vi tình dục trên bức thành được chiếu ở khắp nước. [3]

Các cửa quan-cửa ải dọc Vạn Lý Trường Thành

  • Sơn Hải Quan: cửa ải đầu tiên của Trường Thành, nằm ở nơi giáp ranh giữa hai tỉnh Hà Bắc và Liêu Ninh, khởi điểm của Trường Thành, phía nam của dãy núi Yên Sơn, phía bắc của Biển Bột Hải, do tướng Từ Đạt nhà Minh xây dựng. Tên Sơn Hải quan cũng là do đứng ở nơi đây có thể ngắm được, quan sát được toàn cảnh núi non và biển cả hùng vỹ, với non xanh nước biếc, đồi núi và biển cả soi bóng. Cửa ải này có 4 cửa, cửa phía Đông có một bức hoành phi với dòng chữ "Thiên hạ đệ nhất quan" dài 5,9 m, rộng 1,6 m. Chiều cao của chữ là 1,45 m, rộng 1,09 m do Tiêu Hiển, tiến sĩ, nhà thư pháp nổi tiếng của Nhà Minh viết.
  • Gia Dụ Quan: còn gọi là Hoà Bình Quan, là cửa quan nằm ở khởi điểm phía tây của Trường Thành, trên địa bàn thành phố Gia Dụ Quan, tỉnh Cam Túc, xây dựng vào năm thứ 5 Hồng Vũ 1372.
  • Nương Tử Quan: còn gọi là Vi Trạch Quan, thuộc địa bàn huyện Bình Định, tỉnh Sơn Tây. Địa thế hiểm trở, núi non trùng điệp, dễ phòng khó công nên được mệnh danh là "Tam tấn môn hộ". Hồi đầu nhà Đường, công chúa Bình Dương, con gái thứ 3 của Lý Uyên từng dẫn vài vạn tướng sĩ canh giữ tại đây. Công chúa Bình Dương võ nghệ cao cường, đạo quân của công chúa được gọi là "nương tử quân". Bởi vậy mọi người đổi tên cửa ải này thành Nương Tử Quan. Đến nay trên cánh cửa đông môn thành trì Nương Tử Quan còn có 5 chữ "Trực thuộc Nương tử Quan".
  • Ngọc Môn Quan: ở Tiểu Phương Bàn Thành phía tây Huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc. Tên Ngọc Môn Quan là do tất cả đá ngọc sản xuất ở Hoà Điền, Tân Cương thời cổ đều phải đi qua cửa ải này.
  • Biển Đầu Quan: cửa ải thuộc huyện Biển Đầu, tỉnh Sơn Tây, một vùng đất không bằng phẳng, phía đông cao, phía tây thấp, nên mọi người mới gọi là Biển Đầu Quan.
  • Nhạn Môn Quan: nằm trên một thung lũng ở huyện Đại, tỉnh Sơn Tây, có khí thế hoành tráng, hai bên là vách núi dựng đứng, chỉ những con nhạn, con én mới bay qua được mà chỉ bay dọc theo thung lũng qua phía trước cửa ải, bởi vậy mọi người mới gọi là Nhạn Môn Quan.
  • Cư Dung Quan: ở núi Tử Kinh, huyện Dị, tỉnh Hà Bắc.

Các tháp canh và trại lính

Tháp canh
Tháp canh

Bức tường thành được bổ sung những điểm đóng quân bảo vệ, để những người lính bảo vệ có thế rút lui nếu quân địch quá đông.

Mỗi tháp chỉ có một lối lên duy nhất và các cửa vào cũng như đường lên rất hẹp làm cho những kẻ tấn công dễ bị rối loạn.

Các trại lính và các trung tâm hành chính nằm ở những khoảng cách lớn.

Các loại vật liệu

Các vật liệu được sử dụng là những thứ có sẵn gần nơi xây dựng. Gần Bắc Kinh bức tường được làm bằng những khối đá vôi khai thác tại mỏ. Ở những nơi khác có thể là đá granite hay gạch nung. Nếu sử dụng những vật liệu đó, đầu tiên họ dựng hai bức tường sau đó nén đất và gạch đá vào giữa cùng một lớp phủ cuối cùng bên ngoài để tạo thành một khối duy nhất. Ở một số vùng các khối đó được gắn với nhau bằng một hỗn hợp nhớp dính của gạolòng trắng trứng.

Ở các vị trí vùng cực tây sa mạc, nơi vật liệu tốt rất hiếm, bức tường được làm bằng vụn gỗ thô trộn với các loại sợi.

Sự công nhận

Bức tường thành nằm trong các danh sách "Bảy kỳ quan thời Trung cổ của Thế giới", tất nhiên nó không nằm trong danh sách truyền thống Bảy kỳ quan thế giớingười Hy Lạp cổ đại công nhận.

Bức tường thành trở thành Di sản thế giới của UNESCO năm 1987.

Người Trung Quốc có câu nói, 不到长城非好汉, có nghĩa "Bất đáo Trường Thành phi hảo hán".

Từ ngoài Trái đất

Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc trong một hình radar màu giả chụp từ phi thuyền không gian vào tháng 4, 1994
Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc trong một hình radar màu giả chụp từ phi thuyền không gian vào tháng 4, 1994

Đã có một sự tranh cãi từ lâu về việc bức tường thành sẽ thế nào nếu nhìn từ vũ trụ. Quan điểm rằng nó có thể được nhìn thấy từ vũ trụ có vẻ xuất hiện trước khi có các chuyến bay của con người vào vũ trụ.

Trong cuốn sách Cuốn sách thứ hai về những kỳ quan của Richard Halliburton năm 1938 có nói Vạn Lý Trường Thành là vật nhân tạo duy nhất có thể nhìn thấy được từ Mặt Trăng, và một truyện tranh tên là "Tin hay không tin của Ripley" ở thời gian đó cũng đưa ra tuyên bố tương tự. Niềm tin này kéo dài và trở thành một truyền thuyết đô thị, thỉnh thoảng thậm chí xuất hiện cả trong những cuốn sách giáo khoa. Arthur Waldron, tác giả cuốn lịch sử Vạn Lý Trường Thành đáng tin cậy nhất trong mọi ngôn ngữ đã chỉ ra rằng sự tin tưởng vào việc Vạn Lý Trường Thành có thể nhìn thấy được từ mặt trăng cũng giống như sự phấn khích của một số người khi tin rằng có những "kênh đào" trên bề mặt Sao Hỏa vào cuối thế kỷ 19. Trên thực tế, Vạn Lý Trường Thành đơn giản là không thể nhìn thấy bằng mắt thường nếu không có công cụ hỗ trợ từ Mặt Trăng, chưa nói đến nhìn từ Sao Hỏa.

Khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trăng khoảng một nghìn lần lớn hơn khoảng cách từ Trái Đất đến con tàu vũ trụ bay trên quỹ đạo gần Trái Đất. Nếu Vạn lý trường thành có thể nhìn thấy được từ Mặt Trăng, thì sẽ dễ dàng nhìn thấy nó từ quỹ đạo gần Trái Đất. Trên thực tế, từ quỹ đạo gần Trái Đất, nó rõ ràng là hơi thấy được, và chỉ trong những điều kiện tốt. Và nó cũng không rõ rệt hơn nhiều vật thể khác do con người tạo ra.

Một nhà du hành tàu con thoi thông báo rằng "chúng tôi có thể thấy những vật nhỏ như những đường băng sân bay [nhưng] Vạn Lý Trường Thành hầu như không nhìn thấy được từ khoảng cách 180 dặm Anh (290 km) trở lên." Nhà du hành vũ trụ William Pogue cho rằng ông đã thấy nó từ Skylab nhưng phát hiện ra rằng trên thực tế ông đang nhìn vào Đại Vận Hà gần Bắc Kinh. Ông phát hiện ra Vạn Lý Trường Thành với ống nhòm, nhưng nói rằng "nó không thể nhìn thấy được bằng mắt thường không có thiết bị hỗ trợ." Một nhà du hành trong chương trình Apollo đã nói không một cấu trúc nào của con người có thể nhìn thấy từ khoảng cách vài nghìn dặm. Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Jake Garn tuyên bố có thể nhìn thấy Vạn Lý Trường Thành bằng mắt thường từ trên quỹ đạo của tàu vũ trụ đầu thập kỷ 1980, nhưng tuyên bố của ông còn đang bị nhiều nhà du hành vũ trụ chuyên nghiệp khác của Mỹ phản đối. Nhà du hành vũ trụ Dương Vĩ Lợi người Trung Quốc sau 21,5 giờ bay vòng quanh Trái Đất đến 14 lần, trở lại mặt đất đã xác minh trên truyền hình là không nhìn thấy được Vạn Lý Trường Thành từ không gian. Điều này dẫn đến việc Trung Quốc phải đính chính lại sách giáo khoa đã đăng thông tin này.

Từ quỹ đạo Trái Đất tầm thấp nó có thể được nhìn thấy với điều kiện thời tiết tốt. Điều này giống như việc có thể thấy các đặc điểm của Mặt Trăng ở những thời điểm nhất định và không thấy chúng vào những thời điểm khác, vì sự thay đổi trong hướng ánh sáng. Vạn Lý Trường Thành chỉ rộng vài mét — kích thước tương đương với đường xa lộ và đường băng — và nó đồng màu với đất đá xung quanh.

Cựu phi hành gia Mỹ Gene Cernan đã nói: "Ở quỹ đạo Trái đất từ 10km đến 320km, Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc quả thực là có nhìn thấy được bằng mắt thường." Ed Lu, Sĩ quan khoa học Expedition 7 trên Trạm vũ trụ quốc tế, nói thêm rằng, "...nó còn khó nhìn hơn nhiều vật khác. Và bạn phải biết cách tìm nó ở đâu."

Leroy Chiao, một nhà du hành người Mỹ gốc Hoa, đã chụp một bức ảnh từ Trạm vũ trụ quốc tế có hình bức tường thành. Nó không rõ đến mức mà ông không biết có phải đã thực sự chụp nó không. Dựa trên bức ảnh đó, một tờ báo nhà nước của Trung Quốc đã kết luận rằng Vạn Lý Trường Thành có thể được nhìn thấy từ vũ trụ bằng mắt thường, trong những điều kiện quan sát tốt, nếu người ta biết chính xác phải nhìn ở đâu [4].

Xem thêm

Quảng Châu

 

Quảng Châu
Tỉnh: Quảng Đông
Kiểu hành chính: Địa cấp thị, thủ phủ tỉnh Quảng Đông
Diện tích: 7.434,4 km²
Dân số: 9.496.800 (1/11/2005)
Mật độ: 1.277 người/km²
Phân cấp hành chính: 10 địa hạt khu 2 huyện cấp thị
Vị trí tại Trung Quốc

Quảng Châu (chữ Hán giản thể: 广州, phồn thể: 廣州, pinyin: Guǎngzhōu, Wade-Giles: Kuang-chou, việt phanh: Gwong2zau1, Yale: Gwóngjaū) là thành phố thủ phủ của tỉnh Quảng Đông, miền Nam Trung Quốc, nằm trong đồng bằng châu thổ sông Châu Giang. Tên quốc tế của nó trước đây là Canton. Vào năm 1999, dân số thành phố vào khoảng 4,05 triệu người, và dân số đô thị tính chung lên đến 6,85 triệu. Toạ độ địa lý: 112°57'-114°3' Đông và 22°26'-23°56' Bắc.

Lịch sử

Một số ý kiến cho rằng thành phố đầu tiên được xây dựng trên địa điểm nơi Quảng Châu hiện diện ngày nay là Phiên Ngung (繙禺). Năm 206 trước Công nguyên, Phiên Ngung trở thành kinh đô của nước Nam Việt (南越). Khi nhà Hán thôn tính Nam Việt vào năm 111 trước Công nguyên, Phiên Ngung trở thành tỉnh lỵ và giữ vai trò này cho đến tận ngày nay. Cái tên Quảng Châu vốn là tên tỉnh, người dân quen với việc gọi tên thành phố theo tên tỉnh trong một khoảng thời gian dài khiến cho cái tên Phiên Ngung dần bị lãng quên. Năm 1711, Công ty Đông Ấn của Đế quốc Anh thiết lập trạm giao dịch ở thành phố khởi đầu cho sự có mặt của những người châu Âu. Triều đình vua Càn Long buộc những thương nhân nước ngoài phải dồn vào một quận riêng, việc này dẫn đến nhiều biến động cho số phận thành phố về sau. Năm 1842, kết thúc Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất, theo Hiệp ước Nam Kinh, Quảng Châu trở thành "nhượng cảng", cùng với Ninh Ba, Hạ Môn, Phúc ChâuThượng Hải phải mở cửa cho thương nhân phương Tây tự do giao dịch. Đến năm 1918, thành phố được mang tên chính thức là Quảng Châu. Vào những năm 1930 và 1953, người ta đề xuất trao cho Quảng Châu quy chế thành phố tự trị nhưng những đề xuất trên đều bị huỷ bỏ ngay trong năm. Quân đội Nhật Bản chiếm đóng thành phố này từ năm 1938 đến 1945.

Thành phố kết nghĩa

Kinh tế

Quảng Châu là trung tâm kinh tế của Đồng bằng châu thổ Châu Giang, đây là trung tâm thương mại và chế tạo của khu vực này.

Năm 2005, GDP đầu người của Quảng Châu là 58.000 Nhân dân tệ (tương đương 7.000 USD), xếp thứ 3 trong 659 thành phố Trung Quốc.

 
 

 

Sân bay quốc tế Bạch Vân Quảng Châu

 

Guangzhou Baiyun International Airport
广州白云国际机场
Quảng Châu Bạch Vân quốc tế cơ trường
IATA: CAN - ICAO: ZGGG
Tóm tắt
Kiểu sân bay Public
Cơ quan điều hành Guangzhou Baiyun International Airport Co Ltd
Phục vụ Quảng Châu
Độ cao AMSL 50 ft (15 m)
Tọa độ 23°23′33″N, 113°17′56″E
Đường băng
Hướng Chiều dài Bề mặt
ft m
02L/20R 11,811 3,600 bê tông
02R/20L 12.467 3.800 bê tông

Sân bay quốc tế Bạch Vân Quảng Châu (IATA: CANICAO: ZGGG) (Giản thể: 广州白云国际机场; Bính âm: Guǎngzhōu Báiyún Guójì Jīchǎng ) là sân bay lớn nhất của tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, nằm ở thành phố Quảng Châu. Đây là sân bay trung tâm (hub) của hãng hàng không Nam Phương Trung Quốc.

 

Tổng quan

Sân bay hiện nay tọa lạc tại Quận Huadu mở cửa ngày 5/8/2004, thay thế sân bay quốc tế Bạch Vân cũ 72 năm tuổi (đã đóng cửa). Chi phí xây sân bay mới này là 19,8 tỷ NDT, cách trung tâm Quảng Châu 28 km và rộng gấp 5 lần sân bay cũ. Giai đoạn 2 dự định hoàn tất năm 2009 sẽ tăng gấp đôi công suất hiện nay [1]. Một nhánh của tàu điện ngầm Quảng Châu cũng đang được xây dựng nối vào sân bay này.

"Bạch Vân" (白雲) có nghĩa là mây trắng lấy theo tên núi Bạch Vân kề bên.

Các số liệu

  • Đường băng: 2 (3800 m và 3600 m), có đất để dành cho đường thứ 3
  • Sân đỗ cho số lượng tàu bay: 66
  • Công suất hiện tại: 27 triệu khách/năm
  • Công suất theo quy hoạch đến 2010: 80 triệu khách/năm
  • Công suất hàng hóa: 1 triệu tấn
  • Công suất hàng hóa theo quy hoạch 2010: 2,5 triệu tấn
  • Số lượng các điểm đến: 100 (phần lớn là nội địa)
  • Các sân bay chi nhánh (thuộc cấp): Shantou, Meizhou, Zhanjiang
  • Các sân bay thuộc cấp dự kiến: Weizhou, Zhaoqing

Các hãng hàng không

Các hãng vận chuyển hàng hóa

Former airlines

Các hãng hàng không sắp hoạt động

Air Canada sẽ có chuyến bay thẳgn mỗi ngày đến Vancouver vào mùa hè năm 2007.

Thượng Hải

 

Thượng Hải (上海)

Một góc Phố Đông của Thượng Hải, nhìn từ sông Hoàng Phố.
Vị trí trong Trung Quốc
Thượng Hải tô đậm trên bản đồ

 

Thông tin cơ bản
Nguồn gốc tên gọi: thượng - trên
hải - biển
thị - thành phố
"Thành phố trên biển"
Viết tắt: Hỗ và 申 Thân
Diện tích: 6.340,5 km² (31)
Dân số (2006): 18.670.000 (25) Địa hạt thị

9.838.000 Nội thành, ước tính 2001
Mật độ (2005): 2804/km² (thứ 1) Địa hạt thị
GDP (2005):
 - trên đầu người
CNY 915,4 tỷ (thứ 7)
CNY 51,485 (thứ 1)
HDI (2005) 0.909 (thứ 1) — cao
Các dân tộc chính (2000): Hán - 99%
Hồi - 0.4%
Hoa đặc trưng: Ngọc lan
(Magnolia denudata)
Độ cao: 0 - 103.4 m
Toạ độ: 31°10′N, 121°28′E
Mã bưu chính: 200000 - 202100
Mã vùng: +86/21
Đầu biển số xe : 沪A, B, D, E
沪C (ngoại ô)
ISO 3166-2: cn-31
Múi giờ : UTC+8
Website : www.shanghai.gov.cn
Chính quyền
Cấp hành chính: Địa hạt thị
Bí thư thành ủy: Tập Cận Bình (习近平)
Thị trưởng: Hàn Chính (韩正)
Các đơn vị cấp quận, huyện: 18 quận và 1 huyện
Các đơn vị cấp hương: 220 trấn và hương

Thượng Hải (chữ Hán: 上海, bính âm: Shànghǎi) là thành phố hiện đại và lớn nhất Trung Quốc và là một trong 4 thành phố trực thuộc trung ương của nước này. Diện tích: 6.340,5 km2. Dân số thành phố là 17.110.000 người (trong đó nội ô là 9.838 triệu người). GDP: 745 tỷ Nhân dân tệ (khoảng 93 tỷ USD), GDP đầu người 42.800 NDT (khoảng 5400 USD). Thượng Hải được xem là thủ đô kinh tế của Trung Quốc. Ngày nay, Thượng Hải có hải cảng sầm uất nhất thế giới, hơn cả cảng SingaporeRotterdam. Xuất phát là một làng chài hẻo lánh, Thượng Hải đã trở thành một thành phố quan trọng bậc nhất cho đến Thế kỷ 20, và là trung tâm văn hóa phổ thông, các mưu đồ chính trị và nơi tụ họp của giới trí thức trong thời kỳ Trung Hoa dân quốc. Thượng Hải đã từng một thời là trung tâm tài chính lớn thứ 3 thế giới, chỉ xếp sau Thành phố New YorkLondon, và là trung tâm thương mại lớn nhất Viễn Đông cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Sau khi Mao Trạch Đông cầm quyền Trung Quốc kể từ năm 1949, Thượng Hải đã đi vào thời kỳ sụt giảm tốc độ phát triển do chế độ thuế má cao và do sự triệt thoát kinh tế tư bản của chính quyền mới. Nhờ sự cải cách, mở cửa theo mô hình kinh tế thị trường do Đặng Tiểu Bình khởi xướng và lãnh đạo và đặc biệt là từ năm 1992, Thượng Hải đã có những bước bứt phá ngoạn mục về phát triển kinh tế và nhanh chóng vượt qua Thâm QuyếnQuảng Châu - một thành phố đặc khu được tự do hóa sớm nhất Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để trở thành đầu tàu kinh tế Trung Quốc. Vẫn còn nhiều thách thức cho thành phố này đầu thế kỷ 21 như nạn di dân ồ ạt và sự phân hóa giàu nghèo. Tuy nhiên, bất chấp những thách thức đó, các khu nhà chọc trời và cuộc sống đô thị sôi động của Thượng Hải vẫn là biểu tượng của sự thần kỳ kinh tế Trung Quốc.

 

 

Nguồn gốc tên gọi

"Thượng Hải" bằng chữ Hán
"Thượng Hải" bằng chữ Hán

Dân Thượng Hải đọc tên thành phố là /zɑ̃.'he/, phiên âm pinyin theo tiếng Quan ThoạiShànghǎi. Thượng Hải (Thượng là trên, Hải là biển) là cái tên xuất phát từ thời Nhà Tống (thế kỷ 11) - lúc này đã có một cửa sông và một thị trấn cùng tên gọi. Nghĩa của tên gọi đang là vấn đề gây tranh cãi "phía trên biển" hoặc "đi ra biển". Người Việt Nam gọi là Thượng Hải; Người Đức viết là Schanghai, tiếng Hà Lan là Sjanghai, tiếng Bồ Đào Nha là Xangai, tiếng Pháp là Shanghaï. Tuy nhiên, kể từ những năm 1990, phiên âm pinyin Shanghai đã được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Tiếng Nhật viết tên thành phố gần với cách đọc trong Quan Thoại là シャンハイ shanhai.

Tên viết tắt của thành phố là Hỗ /Hộ (滬/沪) và Thân (申). Tên đất Hỗ/Hộ do tên cổ Hỗ/Hộ Độc (滬瀆/沪渎) của con sông Tô Châu. Tên Thân lấy tên theo Xuân Thân Quân (春申君), một viên quan thời nhà Chu vào thế kỷ 3 Trước Công Nguyên - Xuân Thân là một anh hùng thời đó của nhà Chu (trong lãnh thổ đó có đất Thượng Hải bây giờ). Do vậy Thượng Hải còn được gọi là "Thân Thành" (申城). Trong tiếng Anh thành phố này có nhiều biệt danh: Paris phương Đông, Nữ hoàng phương Đông, Hòn ngọc phương Đông và thậm chí cả Gái điếm châu Á (gọi trong thời kỳ 1920-1930, lúc đó thành phố là một trung tâm tội phạm, ma túy và mãi dâm).

Các đơn vị hành chính

Một phần của Phố Tây Thượng Hải
Một phần của Phố Tây Thượng Hải

Xem thêm "Danh sách các đơn vị hành chính Thượng Hải

Thượng Hải là một trong 4 thành phố trực thuộc Trung ương (trực hạt thị) và gồm 18 quận (thị hạt khu) và 1 huyện. Thượng Hải không có quận nào độc chiếm vị thế trung tâm thành phố, mà khu vực trung tâm trải ra vài quận. Các khu vực kinh doanh có tiếng là Lục Gia Chủy (陆家嘴; Lujiazui) bên bờ đông sông Hoàng Phố, Bund tức Ngoại Than (外灘; Wàitān) và Hồng Kiều (虹桥) ở bờ tây sông Hoàng Phố. Tòa thị chính và các cơ quan hành chính chủ yếu nằm ở quận Hoàng Phố. Đây cũng là khu vực thương mại, kể cả đường Nam Kinh (Nam Kinh lộ) nổi tiếng.

Chín quận thuộc Phố Tây, khu vực Thượng Hải lâu đời, nằm phía bờ tây sông Hoàng Phố. Chín quận này được gọi chung là Thượng Hải thị khu (上海市区) hay trung tâm thành phố (市中心):

Phố Đông về đêm
Phố Đông về đêm
Phố Đông của Thượng Hải
Phố Đông của Thượng Hải

Phố Đông (浦东) là khu vực mới khai phá của Thượng Hải thuộc bờ đông sông Hoàng Phố, có quận mới Phố Đông (浦东新区 Pǔdōng Xīn Qū, Phố Đông tân khu), từ năm 1992 trở về trước vẫn còn là huyện Xuyên Sa.

Các quận và huyện của Thượng Hải
Các quận và huyện của Thượng Hải

Tám quận của Thượng Hải bao quát các thị xã vệ tinh, các vùng ngoại ô và nông thôn cách xa trung tâm thành phố:

  • Bảo Sơn (宝山区 Bǎoshān Qū) — cho đến năm 1988 là huyện Bảo Sơn
  • Mẫn Hàng (闵行区 Mǐnháng Qū) — cho đến năm 1992 là huyện Thượng Hải
  • Gia Định (嘉定区 Jiādìng Qū) — cho đến năm 1992 là huyện Gia Định
  • Kim Sơn (金山区 Jīnshān Qū) — cho đến năm 1997 là huyện Kim Sơn
  • Tùng Giang (松江区 Sōngjiāng Qū) — cho đến năm 1998 là huyện Tùng Giang
  • Thanh Phố (青浦区 Qīngpǔ Qū) — cho đến năm 1999 là huyện Thanh Phố
  • Nam Hối (南汇区 Nánhuì Qū) — cho đến năm 2001 là huyện Nam Hối
  • Phụng Hiền (奉贤区 Fèngxián Qū) — cho đến năm 2001 là huyện Phụng Hiền

Đảo Sùng Minh nằm ở cửa sông Trường Giang là địa bàn huyện Sùng Minh (崇明县 Chóngmíng Xiàn).

Tính đến năm 2003, Thượng Hải có 220 đơn vị hành chính cấp hương: 114 trấn, 3 hương và 103 nhai đạo.

Ngôn ngữ

Tiếng mẹ đẻ của dân Thượng Hải là tiếng Thượng Hải, một phương ngữ của Ngô ngữ trong khi ngôn ngữ chính thức là tiếng Quan Thoại. Tiếng Thượng Hải và tiếng Quan Thoại khác nhau và thông thường dân Bắc Kinh không thể trò chuyện với dân Thượng Hải thông qua tiếng Thượng Hải. Tiếng Thượng Hải ngày nay là một phương ngũ của Ngô ngữ nói ở Tô Châu với các phương ngữ của Ninh Bá và các vùng phụ cận có dân nhập cư vào Thượng Hải với số lượng lớn vào thế kỷ 20. Gần như toàn bộ dân Thượng Hải dưới 40 tuổi có thể nói tiếng Quan Thoại thông thạo. Dân cư có thể nói ngoại ngữ phân bố không đều. Những người tốt nghiệp đại học trước cách mạng và những người làm cho các công ty nước ngoài có thể nói tiếng Anh. Những người dưới 26 tuổi đã có tiếp xúc với tiếng Anh kể từ tiểu học do tiếng Anh được bắt đầu dạy ở lớp 1.

Kinh tế

Quảng trường nhân dân ở Thượng Hải
Quảng trường nhân dân ở Thượng Hải
Tháp truyền hình Minh Châu Đông Phương về đêm
Tháp truyền hình Minh Châu Đông Phương về đêm

Thượng Hải thường được xem như trung tâm tài chính và thương mại của Trung Hoa đại lục. Thượng Hải bắt đầu thực sự phát triển nhanh từ 1992, sau các thành phố ở các tỉnh phía nam Trung Quốc (Quảng Châu, Thâm Quyến, Chu Hải, Hạ Môn...) khoảng 10 năm. Trước đó, ngân sách của thành phố phần lớn để lại cho chính quyền trung ương ở Bắc Kinh, phần để lại cho thành phố này rất ít. Dù đã giảm gánh nặng thuế má kể từ 1992, nguồn thuế thu tại Thượng Hải vẫn đóng góp cho chính quyền trung ương chiếm khoảng 20-25%, trước đấy là 70%. Thượng Hải ngày nay vẫn là thanh phó phát triển và đông dân nhất Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cảng Thượng Hải xếp hàng đầu thế giới về lượng hàng hóa thông qua, khoảng 443 triệu tấn hàng/năm. Nếu tính về lượng công ten nơ vận chuyển, các cảng của Thượng Hải xếp thứ 3, sau Singapore và Hong Kong. Thượng Hải và Hong Kong gần đây đang tranh đua vị trí trung tâm kinh tế của Trung Quốc. GDP đầu người của Thượng Hải là 5.620 USD, của Hong Kong là 37.400. Hong Kong có lợi thế hơn về hệ thống pháp luật, hội nhập quốc tế, tự do hóa hơn và kinh nghiệm kinh tài cao hơn. Thượng Hải có mối liên hệ với lục địa Trung Hoa sâu hơn, mạnh hơn về ngành chế tạo và công nghệ. Thượng Hải đã và đang nâng cao vai trò là địa điểm của nhiều trụ sở các tập đoàn kinh tế, tài chính, thương mại, ngân hàng và giáo dục quốc tế. Tăng trưởng GDP đã đạt 2 con số liên tục trong 14 năm. Năm 2005, tỷ lệ tăng trưởng GDP là 11,1%, đạt 114 tỷ USD. Thượng Hải đang trải qua thời kỳ bùng nổ xây dựng, đặc biệt là xây dựng các cao ốc, các công trình công cộng khổng lồ với thiết kế hiện đại, độc đáo (như tháp truyền hình, nhà hát...). Khu Phố Đông là một khu đô thị mới với tốc độ xây dựng nhanh chóng, khoảng hơn 10 năm và đã trở thành trung tâm mới của Thượng Hải với rừng cao ốc.

Lịch sử

Trước khi thành lập thành phố Thượng Hải, Thượng Hải là một phần của huyện Tùng Giang (松江縣), thuộc phủ Tô Châu (蘇州府). Từ thời Nhà Tống (960-1279), Thượng Hải dần trở thành một hải cảng sẫm uất, vượt lên trên vai trò chính trị là một địa phương thuộc huyện. Ngày nay, Tùng Giang (淞江) là 1 quận thuộc thành phố Thượng Hải.

Một bức tường thành được xây dựng năm 1553 sau Công nguyên - thời điểm được xem như bắt đầu hình thành thành phố Thượng Hải. Tuy nhiên, trước thế kỷ 19, Thượng Hải không được xem là thành phố lớn của Trung Hoa. Do đó, so với phần lớn các thành phố khác của Trung Quốc, có rất ít công trình cổ tiêu biểu ở thành phố này ngày nay. Một vài địa điểm văn hóa ít ỏi có thể thấy ở Thượng Hải ngày nay rất cổ kính và tiêu biểu thời Tam Quốc do địa điểm này nằm trong trung tâm văn hóa lịch sử của Đông Ngô (222-280).

Trong thời kỳ Càn Long nhà Thanh, Thượng Hải đã trở thành một cảng khu vực quan trọng của khu vực sông Trường Giangsông Hoàng Phố. Thành phố cũng trở thành hải cảng chính của các tỉnh Giang TôTriết Giang gần đấy dù trao đổi mậu dịch với nước ngoài thời kỳ này bị triều đình cấm. Một khu vực lịch sử quan trọng của thời kỳ này là Ngũ Giác Trường (五角场) (ngày nay là quận Dương Phố) - là nền tảng của trung tâm thành phố. Khoảng cuối thời Càn Long, Thập Lục Phố (ngày nay là quận Hoàng Phố) trở thành cảng lớn nhất Đông Á.

Thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20

Tầm quan trọng của Thượng Hải tăng lên nhanh chóng vào thế kỷ 19 do vị trí chiến lược của thành phố này ở cửa sông Dương Tử khiến cho nó có vị trí lý tưởng để buôn bán với phương Tây. Trong cuộc chiến tranh nha phiến thứ nhất vào đầu thế kỷ 19, các lực lượng của Anh đã tạm thời chiếm giữ Thượng Hải. Cuộc chiến kết thúc năm 1842 với hòa ước Nam Kinh với kết quả là các cảng nhượng quyền trong đó có Thượng Hải, mở cửa cho các nước buôn bán. Hiệp ước Bogue được ký năm 1843 và Hiệp ước Wangsia Trung-Mỹ ký năm 1844 khiến cho phương Tây giành được có đặc quyền ngoại giao trên đất Trung Hoa và chính thức tồn tại cho đến năm 1943 nhưng về bản chất không còn tồn tại từ cuối những năm 1930. Từ những năm 20 đến cuối những năm 30 của thế kỷ 20, Thượng Hải được gọi là thành phố tội phạm. Các băng nhóm chiếm giữ quyền lực và điều hành các sòng bạc và các nhà thổ.

Thái Bình Thiên Quốc nổ ra năm 1850 và năm 1853 Thượng Hải bị chiếm giữ bởi Tam Hoàng hội gọi là Small Swords Society. Các cuộc thanh trừng phá hủy các miền quê nhưng không đụng chạm đến các khu định cư của phương Tây. Mặc dù trước đó người Hoa bị cấm sống trong các khu định cư của người nước ngoài, năm 1854 các quy định mới đã cho phép người Hoa được đến ở. Giá đất tăng lên đáng kể.

Trong năm 1854, cuộc họp thường niên đầu tiên của Hội đồng thành phố Thượng Hải đã họp, Hội đồng này được tạo ra để quản lý các khu định cư của dân ngoại quốc. Năm 1863, khu định cư của Anh, tọa lạc dọc theo bờ Tây sông Hoàng Phố đến phía nam nhánh sông Tô Châu (quận Hoàng Phố) và khu định cư người Mỹ tọa lạc dở bờ Tây sông Hoàng Phố đến phía Bắc của nhánh sông Tô Châu (quận Hán Khẩu) sáp nhận với nhau thành Khu định cư quốc tế. Người Phá chọ lựa phương án ra khỏi Hội đồng thành phố Thượng Hải và thay vào đấy duy trì Khu nhượng địa Pháp, tọa lạc ở phía Tây của Khu định cư quốc tế. Thời kỳ này có một lượng lớn dân di cư từ châu Âu và Bắc Mỹ, những người tự gọi mình là "Shanghighlanders".

Chiến tranh Trung Nhật nổ ra năm 1894-1895 giành quyền kiểm sóat Triều Tiên kết thúc bằng hiệp ước Shimonoseki, cùng với việc Nhật Bản nổi lên như là một cường quốc bổ sung ở Thượng Hải, và ngay sau đó các cường quốc khác cũng theo gương.

Thành phố kết nghĩa

Giáo dục

Quốc lập

Công lập

Tư thục

Trung học

Hồng Kông

中華人民共和國香港特別行政區
Hong Kong Special Administrative Region of the People's Republic of China
Trung Hoa Nhân dân Cộng hòa quốc Hương Cảng Đặc biệt Hành chính khu
Quốc kỳ Hồng Kông Quốc huy Hồng Kông
Quốc kỳ Quốc huy
Vị trí của Hồng Kông
Ngôn ngữ chính thức tiếng Anh, tiếng Trung Quốc (cả Quảng ĐôngQuan Thoại)
Chính phủ Khu hành chính đặc biệt
 -  Trưởng Đặc khu Tăng Ấm Quyền (Donald Tsang)
Trao trả nhượng địa
Diện tích
 -  Tổng số 1,103 km² (hạng 169)
 -  Nước (%) 4,6%
Dân số
 -  Ước lượng 2005 6.943.600 (hạng 97)
 -  Mật độ 6.254 /km² (hạng -)
GDP (PPP) Ước tính 2005
 -  Tổng số 227 tỷ đô la (hạng 40)
 -  Theo đầu người 32.294 đô la (hạng 11)
Đơn vị tiền tệ $ Đô la (HKD)
Múi giờ HK (UTC+8)
 -  Mùa hè (DST) HKT (UTC+8)
Tên miền Internet .hk
Mã số điện thoại [[++8521]]
1 01 từ Ma Cao

Đặc khu hành chính Hồng Kông thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (phồn thể: 中華人民共和國香港特別行政區 (); Hán-Việt: Hương Cảng; Quảng Đông: ; Quan Thoại: Xiānggǎng, phát âm), là một Đặc khu hành chính thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH), nằm trên bờ biển Đông Nam của Trung Quốc.

Chính quyền Hồng Kông đã chính thức áp dụng cách viết tên gọi hiện nay vào ngày 3 tháng 9 năm 1926 (Công báo Hồng Kông, bản số 479, ngày 3 tháng 9 năm 1926). Trong khi phần lớn tên các thành phố của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được Latinh hóa bằng cách sử dụng bính âm thì tên tiếng Anh chính thức của Hồng Kông vẫn là Hong Kong chứ không phải Xiānggǎng (Hương Cảng) (xem Phát âm Hồng Kông). Hồng Kông là một trong hai đặc khu hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (đặc khu hành chính còn lại là Ma Cao). Lãnh thổ này, gồm hơn 260 hòn đảo, nằm về phía Đông của Đồng bằng châu thổ Châu Giang, giáp với tỉnh Quảng Đông về phía Bắc và nhìn ra Biển Nam Trung Hoa ở phía Đông, Tây và Nam.

Hồng Kông từng là một lãnh thổ phụ thuộc của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland từ năm 1842 đến khi chuyển giao chủ quyền cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997. Tuyên bố chung Trung-AnhLuật Cơ bản của Hồng Kông quy định rằng Hồng Kông được hưởng một quy chế tự trị cao cho đến ít nhất là năm 2047 - 50 năm sau khi chuyển giao chủ quyền. Dưới chính sách một quốc gia, hai chế độ, Chính quyền Nhân dân Trung ương chịu trách nhiệm về mặt quốc phòngngoại giao của lãnh thổ này còn Hồng Kông thì duy trì hệ thống pháp luật, lực lượng cảnh sát, chế độ tiền tệ, chính sách hải quan, chính sách nhập cư của Anh, và các đại biểu trong các tổ chức và sự kiện quốc tế.

 

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Hồng Kông
Cờ của Hồng Kông thuộc địa, một Phù hiệu Xanh với huy hiệu của thuộc địa.
Cờ của Hồng Kông thuộc địa, một Phù hiệu Xanh với huy hiệu của thuộc địa.

Từ Thời kỳ đồ đá cũ, vùng đất này đã có người sinh sống và đến thời Nhà Tần, nó được sáp nhập lần đầu vào Trung Hoa rồi được Nhà ĐườngNhà Tống sử dụng làm một trạm thương mại và căn cứ hải quân. Theo tài liệu lưu trữ, vào năm 1513, Jorge Álvares - một thủy thủ người Bồ Đào Nha - là người châu Âu đầu tiên đến đây.[1][2] Mối liên lạc với Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được thiết lập sau khi Công ty Đông Ấn Anh thành lập một trạm buôn bán ở thành phố Quảng Châu gần đó.

Năm 1839, việc triều đình Nhà Thanh từ chối nhập khẩu nha phiến đã dẫn đến Chiến tranh Nha phiến giữa Trung Quốc và Vương quốc Anh. Ban đầu đảo Hồng Kông bị các lực lượng Anh chiếm vào năm 1841 và đến cuối cuộc chiến chính thức được nhượng cho Anh theo Hiệp ước Nam Kinh. Anh đã thiết lập một Thuộc địa trực thuộc Anh (Crown Colony) với việc thành lập Thành phố Victoria một năm sau. Năm 1860, sau khi Trung Quốc thất bại trong Chiến tranh Nha phiến thứ 2, Bán đảo Cửu Long (Kowloon) phía Nam Phố BoundaryĐảo Stonecutter đã được nhượng vĩnh viễn cho Vương quốc Anh theo Hiệp định Bắc Kinh. Năm 1898, Nhà Thanh cho Anh thuê các đảo gần đấy và Đảo Lantau với thời hạn 99 năm, từ đó đảo có tên là Tân Giới.

Cuối thế kỷ 19 Hồng Kông là một cảng thương mại lớn của Đế quốc Anh.
Cuối thế kỷ 19 Hồng Kông là một cảng thương mại lớn của Đế quốc Anh.

Hồng Kông đã được công bố là một cảng tự do và có vai trò như một trung tâm xuất nhập khẩu (entrepôt) của Đế quốc Anh. Năm 1910, tuyến Đường sắt Cửu Long-Quảng Châu bắt đầu hoạt động với một ga cuối phía Nam ở Tsim Sha Tsui. Người Anh đã áp dụng hệ thống giáo dục Anh vào Hồng Kông. Người Hoa địa phương ít tiếp xúc với cộng đồng tài phán (tai-pan) người châu Âu giàu có định cư gần Victoria Peak.

Ngày 8 tháng 12 năm 1941, Đế quốc Nhật Bản đã xâm lược Hồng Kông như một phần của chiến dịch quân sự trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Trận chiến Hồng Kông kết thúc với việc các lực lượng bảo hộ Anh và Canada giao nộp quyền kiểm soát thuộc địa này cho Nhật Bản ngày 25 tháng 12. Trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Hồng Kông, người dân ở đây đã phải gánh chịu nạn thiếu lương thực do sự áp đặt khẩu phần gây ra và nạn siêu lạm phát do áp đặt tỷ giá của quân đội Nhật. Năm 1945, khi Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tiếp tục kiểm soát thuộc địa này sau thất bại của Nhật Bản trong cuộc chiến, dân số Hồng Kông còn khoảng 600 nghìn so với 1,6 triệu người trước khi Nhật xâm chiếm.[3]

Quân Nhật Bản hành quân dọc theo Queen's Road (Phố Hoàng hậu) sau khi Anh đầu hàng năm 1941.
Quân Nhật Bản hành quân dọc theo Queen's Road (Phố Hoàng hậu) sau khi Anh đầu hàng năm 1941.

Dân số Hồng Kông phục hồi nhanh chóng sau chiến tranh, khi một làn sóng dân nhập cư từ đại lục đến để tị nạn khỏi cuộc Nội chiến Trung Quốc đang diễn ra giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch. Với sự thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949, nhiều người nhập cư tìm đến Hồng Kông vì sợ sự ngược đãi của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhiều công ty ở Thượng HảiQuảng Châu cũng chuyển đến Hồng Kông. Thuộc địa này đã trở thành nơi liên lạc duy nhất giữa Trung Quốc và thế giới phương Tây khi chính quyền mới ở Trung Quốc tăng cường cô lập đất nước khỏi ảnh hưởng từ bên ngoài. Thương mại với đại lục bị gián đoạn trong thời kỳ Chiến tranh Triều Tiên khi Liên Hiệp Quốc đã ra lệnh cấm vận thương mại đối với Trung Quốc.

Ngành dệt và chế tạo đã phát triển với sự trợ giúp của sự tăng trưởng dân số và giá nhân công thấp. Khi Hồng Kông được công nghiệp hóa nhanh, nền kinh tế của Hồng Kông đã được thúc đẩy nhờ xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Mức sống tăng ổn định cùng với sự tăng trưởng công nghiệp. Việc xây dựng Shek Kip Mei Estate năm 1953 đánh dấu sự bắt đầu của chương trình public housing estate (khu chung cư công cộng). Hồng Kông bị phá hoại bởi những hỗn loạn trong các cuộc bạo loạn năm 1967. Những người cánh tả thân cộng sản, với cảm hứng từ cuộc Cách mạng Văn hóa ở đại lục, đã biến một cuộc tranh chấp lao động thành một cuộc nổi dậy bạo động chống lại chính quyền thuộc địa kéo dài cho đến cuối năm.

Được thành lập năm 1974, Ủy ban Độc lập chống Tham nhũng đã làm giảm mạnh mẽ nạn tham nhũng của chính quyền. Khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa khởi xướng một công cuộc cải cách kinh tế năm 1978, Hồng Kông đã trở thành một nguồn đầu tư nước ngoài chủ yếu cho đại lục. Một Đặc khu Kinh tế đã được thành lập năm sau ở Thâm Quyến, một thành phố nằm ở ngay phía Bắc của biên giới của đại lục với Hồng Kông. Nền kinh tế của Hồng Kông đã dần thay thế từ ngành dệt may và chế tạo bằng dịch vụ, khi các lĩnh vực tài chính và ngân hàng đã trở nên chiếm ưu thế ngày càng tăng. Sau cuộc Chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, chính quyền Hồng Kông đã trải qua 25 năm xử lý vấn đề hồi hương người tị nạn Việt Nam.

Khi thời hạn cho thuê Tân Giới chuẩn bị kết thúc trong hai thập kỷ, chính phủ hai nước Trung Quốc và Anh đã thảo luận vấn đề chủ quyền Hồng Kông vào thập niên 1980. Năm 1984, hai nước đã ký Tuyên bố chung Trung-Anh, đồng ý chuyển chủ quyền Hồng Kông cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997. Tuyên bố này quy định rằng Hồng Kông sẽ được quản lý như một đặc khu hành chính, được giữ lại các luật lệ của mình và một mức độ tự trị cao trong 50 năm sau khi chuyển giao. Do thiếu tin tưởng vào thỏa thuận này, nhiều cư dân của Hồng Kông đã chọn di cư khỏi Hồng Kông, đặc biệt sau Sự kiện Quảng trường Thiên An Môn năm 1989.

Đại biểu từ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tham dự Lễ bàn giao Hồng Kông trong đêm 30 tháng 6 năm 1997.
Đại biểu từ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tham dự Lễ bàn giao Hồng Kông trong đêm 30 tháng 6 năm 1997.

Luật Cơ bản của Hồng Kông, có vai trò như một văn bản hiến pháp sau cuộc bàn giao chủ quyền, đã được phê chuẩn năm 1990. Với sự phản đối mạnh mẽ từ Bắc Kinh, Thống đốc Chris Patten đã đưa ra các cải cách về quá trình tự bầu cử vào Hội đồng Lập pháp Hồng Kông. Việc chuyển giao chủ quyền Hồng Kông đã được thực hiện vào giữa đêm ngày 1 tháng 7 năm 1997, đánh dấu bằng lễ chuyển giao tại Trung tâm Hội nghị và Triển lãm Hồng Kông. Đổng Kiến Hoa đã nhậm chức Trưởng Đặc khu Hành chính Hồng Kông đầu tiên.

Nền kinh tế của Hồng Kông đã chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Dịch cúm gia cầm do H5N1 gây ra cũng xuất hiện ở Hồng Kông vào năm đó. Việc thực hiện Airport Core Programme dẫn đến việc khai trương Sân bay Quốc tế Hồng Kông mới năm 1998, sau 6 năm xây dựng. Dự án này là một phần của Chiến lược Phát triển Cảng và Sân bay đầy tham vọng được dự thảo trong thập niên 1980.

Việc bùng phát Hội chứng Viêm đường Hô hấp Cấp (SARS) đã bùng phát tại Hồng Kông nửa đầu năm 2003. Năm đó, một nửa triệu người tham gia vào cuộc tuần hành biểu thị phản đối chính quyền của Đổng Kiến Hoa và đề xuất thi hành Điều 23 Luật Cơ bản, mà trước đó đã nêu lên các quan ngại về sự vi phạm các quyền và sự tự do. Đề xuất này sau đó bị chính quyền Hồng Kông huỷ bỏ. Năm 2005, Đổng Kiến Hoa đệ đơn từ chức Trưởng Đặc khu. Donald Tsang, Ti trưởng Ti Hành chính, đã được chọn làm Trưởng Đặc khu để hoàn thành nốt nhiệm kỳ của Đổng Kiến Hoa.

Địa lý

Bản đồ tổng thể Hồng Kông
Bản đồ tổng thể Hồng Kông

Hồng Kông chủ yếu bao gồm Đảo Hồng Kông, Đảo Lạn Đầu, Bán đảo Cửu LongTân Giới. Bán đảo Cửu Long gắn liền với Tân Giới về phía Bắc và Tân Giới nối về phía Bắc và cuối cùng nối với Trung Hoa Đại Lục qua con sông Thâm Quyến. Tổng cộng, Hồng Kông bao gồm một tập hợp 262 hòn đảobiển Nam Trung Hoa, trong đó Lạn Đầu là đảo lớn nhất. Đảo Hồng Kông là đảo lớn thứ hai và đông dân nhất. Ap Lei Chau là đảo có mật độ dân số cao nhất thế giới.

Tên gọi "Hồng Kông" (xuất phát từ tiếng Quảng Đông đọc là Hướng Coỏng, có nghĩa là "cảng thơm", lấy từ khu vực ngày nay là Aberdeen nằm trên đảo Hồng Kông, nơi các sản phẩm từ gỗ hương và nhang một thời được buôn bán.[4] Vùng nước hẹp tách Đảo Hồng Kông và Bán đảo Cửu Long là bến cảng Victoria, một trong những hải cảng tự nhiên sâu nhất thế giới.

Dù Hồng Kông nổi tiếng là đô thị hoá cao, lãnh thổ này cũng đã có những nỗ lực tăng cường môi trường cây xanh.[5] Phần lớn lãnh thổ vẫn giữ không phát triển do các khu vực này phần lớn là đồi núi với các sườn dốc. Trong 1104 ki lô mét vuông của lãnh thổ,[6] chỉ ít hơn 25% là phát triển. Phần diện tích đất còn lại chủ yếu là không gian cây xanh với khoảng 40% đất được giành cho công viên thôn quê và các khu dự trữ thiên nhiên.[7] Phần lớn sự phát triển đô thị của lãnh thổ hiện hữu ở Bán đảo Cửu Long, dọc theo các bờ biển phía Bắc của Đảo Hồng Kông và ở khu định cư rải rác khắp Tân Giới.

Bờ biển dài và không thẳng của Hồng Kông đã tạo cho lãnh thổ này nhiều vịnh, sôngbãi biển. Dù lãnh thổ này có mật độ cây xây cao và nằm ven biển, ý thức môi trường vẫn tăng lên khi bầu không khí của Hồng Kông được xếp vào hàng một trong những nơi ô nhiễm nhất. Khoảng 80% khói của thành phố xuất phát từ các vùng khác của Đồng bằng châu thổ Châu Giang[8]

Hồng Kông cách Macau 60 km về phía Đông, về phía đối diện của Đồng bằng châu thổ Châu Giang và giáp với thành phố đặc khu Thâm Quyến thuộc tỉnh Quảng Đông về phía Bắc. Đỉnh cao nhất của lãnh thổ này là Tai Mo Shan, với độ cao 958 m trên mực nước biển. Các vùng đất thấp nằm ở phần Tây Bắc của Tân Giới.

Khí hậu

Bài chi tiết: Khí hậu Hồng Kông
Đài Thiên văn Hồng Kông là bộ phận của chính quyền Đặc khu chịu trách nhiệm dự báo khí tượng thuỷ ăn, thiên tai và khảo sát địa chất của lãnh thổ.
Đài Thiên văn Hồng Kông là bộ phận của chính quyền Đặc khu chịu trách nhiệm dự báo khí tượng thuỷ ăn, thiên tai và khảo sát địa chất của lãnh thổ.

Khí hậu Hồng Kông thuộc kiểu bán nhiệt đới và chịu ảnh hưởng của gió mùa. Vào mùa đông khí hậu lạnh hơn và khô từ tháng 12 đến đầu tháng 3 dương lịch và nóng, ẩm và mưa vào mùa xuân đến mùa hè. Vào mùa thu trời nắng và khô. Hồng Kông thường có khí xoáy tụ nhiệt đới vào mùa hè và mùa thu. Hệ sinh thái của Hồng Kông chịu ảnh hưởng của sự thay đổi khí hậu này. Khí hậu của Hồng Kông theo mùa là do các hướng gió thay đổi giữa mùa đông và mùa hè. Về mặt địa chất, Hồng Kông đã ổn định hàng triệu năm nay, dù các vụ lở đất vẫn thường xảy ra, đặc biệt là sau các cơn mưa dông lớn. Hệ động thực vật ở Hồng Kông thay đổi theo sự thay đổi của khí hậu, mực nước biển và ảnh hưởng của con người. Nhiệt độ cao nhất ghi nhận được[9] ở Hồng Kông là 38°C (98,0°F) còn nhiệt độ thấp nhất ghi nhận được là -4°C (25,0°F). Nhiệt độ trung bình[10] trong tháng lạnh nhất là tháng một là 16,1°C (61,0°F) còn nhiệt độ trung bình trong tháng nóng nhất là tháng 7 là 28,7°C (83.7°F). Lãnh thổ tọa lạc về phía Nam của hạ chí tuyến tương đương với vĩ độ của Hawaii. Về mùa Đông, các cơn gió mạnh và lạnh thổi từ phía Bắc làm thành phố trở nên lạnh; về mùa hè, hướng gió thay đổi mang theo không khí ẩm và ấm từ phía Tây Nam. Khí hậu lúc này phù hợp với rừng mưa nhiệt đới

[ẩn]Khí hậu bình quân của Hồng Kông
Tháng Một Hai Ba Năm Sáu Bảy Tám Chín Mười Mười một Mười hai Năm
Trung bình cao °C 18.6 18.6 21.5 25.1 28.4 30.4 31.3 31.1 30.2 27.7 24.0 20.3 25,6
Trung bình thấp °C 14.1 14.4 16.9 20.6 23.9 26.1 26.7 26.4 25.6 23.4 19.4 15.7 21,1
Lượng mưa mm 24.9 52.3 71.4 188.5 329.5 388.1 374.4 444.6 287.5 151.9 35.4 34.5 2.382,7
Trung bình cao °F 65.5 65.5 70.7 77.2 83.1 86.7 88.3 88.0 86.4 81.9 75.2 68.5 78,1
Trung bình thấp °F 57.4 57.9 62.4 69.1 75.0 79.0 80.1 79.5 78.1 74.1 66.9 60.3 70,0
Lượng mưa inch 0.98 2.06 2.81 7.42 12.97 15.28 14.74 17.50 11.32 5.98 1.39 1.36 93,81
Nguồn: HKO[10] 20 tháng 1, 2006

Chính trị và chính quyền

Hội đồng Lập pháp của Hồng Kông
Hội đồng Lập pháp của Hồng Kông

Theo Luật Cơ bản và văn bản hiến pháp của Hồng Kông, chính quyền địa phương Hồng Kông nắm giữ chủ quyền lãnh thổ ngoại trừ lĩnh vực quốc phòngngoại giao. Chỉ có Trưởng Đặc khu, người đứng đầu lãnh thổ và là người đứng đầu chính quyền là được bầu chọn bởi Ủy ban Bầu cử Trưởng Đặc khu bao gồm 800 thành viên. Tất cả các viên chức khác của chính quyền, bao gồm các thành viên của các cơ quan hành pháplập pháp đều hoặc là được Trưởng Đặc khu bổ nhiệm (trực tiếp hay ủy nhiệm) hoặc được cử tri bầu ra. Trên lý thuyết, việc quy định này đảm bảo Hồng Kông được quản lý hầu như độc lập khỏi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và có thể gìn giữ được hạ tầng cơ sở kinh tế, pháp luật, văn hoá độc nhất của mình.

Các luật của Hồng Kông chỉ có hiệu lực khi được Trưởng Đặc khu Hành chính phê chuẩn và sự đồng thuận đa số của 60 đại biểu của Hội đồng Lập pháp Hồng Kông, hay LegCo. Bất chấp đặc điểm thường được được cho là không dân chủ của chính quyền Hồng Kông, một nửa số ghế của LegCo' được bầu cử thông qua phổ thông đầu phiếu với nửa kia được chọn thông qua công năng giới biệt (tiếng Anh: functional constituencies) bao gồm các nghiệp đoàn và các nhóm lợi ích đặc biệt. Luật Cơ bản đảm bảo rằng tất cả các ghế cuối cùng sẽ được bầu thông qua phổ thông đầu phiếu.

Donald Tsang hiện đang giữ chức Trưởng Đặc khu sau khi ông được bầu cử ngày 16 tháng 6 năm 2005 bởi một hội đồng bầu cử được bổ nhiệm bởi Bắc Kinh.[11] Trước cuộc chuyển giao năm 1997, Tsang đã giữ chức Trưởng Ti Ti Hành chính dưới thời người Anh quản lý. Ông đã nhậm chức ngày 24 tháng 6 và theo kế hoạch sẽ kết thúc phần còn lại của nhiệm kỳ cuối của Đổng Kiến Hoa kết thúc vào ngày 30 tháng 6 năm 2007 phù hợp với Phụ lục IĐiều 46 ban hành bởi Uỷ ban Thường vụ Hội nghị Hiệp thương Nhân dân Trung Hoa.

Việc Hội đồng Bầu cử 852 thành viên bầu chọn một Trưởng Đặc khu mới diễn ra vào ngày 10 tháng 7 năm 2005. Ngày 16 tháng 6 năm 2005, Donald Tsang được tuyên bố là người giành chiến thắng vì ông là ứng cử viên duy nhất đảm bảo nhận được 100 phiếu của Hội đồng Bầu cử. Đổng Kiến Hoa, Trưởng Đặc khu đầu tiên nhậm chức ngày 1 tháng 7 năm 1997 sau một cuộc bầu cử Bởi một Hội đồng Bầu cử 400 thành viên. Đối với nhiệm kỳ thứ hai kéo dài 5 năm bắt đầu từ tháng 6 năm 2002, Đổng là ứng cử viên duy nhất được giới thiệu do đó là người đắc cử.

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã lập nên một Hội đồng Lập pháp Lâm thời (PLC) năm 1996 ngay trước ngày chuyển giao, khi Hội đồng này đã chuyển đến Hồng Kông và họp sau cuộc chuyển giao. Hội đồng này đã xem xét lại một số luật được Hội đồng Lập pháp thông qua bằng phổ thông đầu phiếu từ năm 1995. PLC đã thông qua một số luật mới như Sắc lệnh Trật tự công cộng,[12] yêu cầu sự cho phép của cảnh sát khi tổ chức một cuộc biểu tình có số người tham gia vượt quá 30 người. Cuộc bầu cử Hội đồng Lập pháp được tổ chức vào ngày 24 tháng 5 năm 1998, ngày 10 tháng 9 năm 2000 và tiếp theo là ngày 12 tháng 9 năm 2004, với cuộc bầu cử tiếp theo diễn ra vào năm 2008. Theo Luật Cơ bản, "hiến pháp-mini" của Hồng kông, nhiệm kỳ thứ ba hiện tại của Hội đồng Lập pháp có 25 ghế được bầu cử theo đơn vị bầu cử địa phương (geographical constituencies) và 30 ghế từ công năng giới biệt. Các cuộc bầu cử Hội đồng Lập pháp năm 1998, 2000 và 2004 đã diễn ra tự do, mở và tranh luận rộng rãi dù có một số bất mãn của một số nhà chính trị chủ yếu là 'ủng hộ dân chủ', những người tranh luận rằng các cuộc bầu cử công năng giới biệt năm 1998 và 2000 là không dân chủ vì họ cho răng khu vực cử tri cho những ghế này là quá hẹp.

Ngành dân chính của Hồng Kông vẫn duy trì chất lượng và tính trung lập như truyền thống trong thời thuộc địa, hoạt động mà không có chỉ đạo rõ rệt từ Bắc Kinh. Nhiều hoạt động của chính quyền và hành chính thực hiện ở khu vực trung tâm của Đảo Hồng Kông gần địa điểm lịch sử của Thành phố Victoria, khu vực của những khu định cư Anh đầu tiên.

Hệ thống pháp luật và tư pháp

Một hội đồng các thẩm phán Hồng Kông
Một hội đồng các thẩm phán Hồng Kông

Trái với hệ thống luật dân sự của Trung Hoa đại lục , Hồng Kông tiếp tục theo truyền thống thông luật được chính quyền thuộc địa Anh thiết lập. Điều 84 của Luật Cơ bản Hồng Kông cho phép các tòa án Hồng Kông được tham chiếu đến các quyết định tiền lệ án được đưa ra bởi các tòa có quyền hạn pháp lý thông luật khác. Điều 82 và 92 cho phép các thẩm phán từ các từ các khu vực xét xử thông luật khác được tham gia vào quá trình xét xử trong Tòa chung thẩm của Hồng Kông và nhóm họp như các thẩm phán Hồng Kông.

Về mặt cơ cấu, hệ thống tòa án Hồng Kông bao gồm Tòa chung thẩm đã Ủy ban Tòa án Hội đồng Cơ mậtl, Tòa án Tối cao, được cấu thành từ Tòa Thượng thẩmTòa Sơ thẩm, và Tòa án Quận, bao gồm Tòa án Gia đình. Các cơ quan xét xử khác bao gồm: Tòa án Đất đai, Tòa Trị an, Tòa Thanh thiếu niên, Tòa Khiếu nại Nhỏ, Tòa Những vụ chết bất thường, Tòa Lao động, Tòa Các điều khoản Khiêu dâm chịu trách nhiệm phân loại văn hóa phẩm khiêu dâm không phải video được lưu hành ở Hồng Kông. Thẩm phán của Tòa Chung thẩm được Trưởng Đặc khu Hành chính Hồng Kông bổ nhiệm. Luật Cơ bản Hồng Kông thì được hiểu theo cách giải thích của Ủy ban Thường vụ Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc (Quốc hội) và quyền hạn này đã từng được viện dẫn 3 lần: Vấn đề quyền cư trú tại Hồng Kông (right of abode issue), một sự diễn giải liên quan đến các thủ tục bầu cử sau năm 2008, và một lần giải thích liên quan đến độ dài nhiệm kỳ của Trưởng Đặc khu hành chính.

Như ở Anh, luật gia ở Hồng Kông được phân ra thành luật sư hoặc cố vấn pháp lý, và người ta có thể chọn hành nghề dưới danh nghĩa một trong hai chức danh này nhưng không được cả hai (nhưng có thể chuyển từ chức danh này sang chức danh kia). Phần lớn luật gia là cố vấn pháp lý và được cấp giấy phép hành nghề và được điều chỉnh bởi Hội Pháp luật Hồng Kông. Các luật sư, mặt khác được cấp giấy phép và được điều chỉnh bởi Hội Luật sư Hồng Kông. Chỉ có các luật sư mới được có mặt để bào chữa tại Tòa Chung tẩmTòa án Tối cao. Cũng giống như hệ thống thông luật được duy trì, như thông lệ các các phòng xử án Anh quốc, các thẩm phán và luật sư phải đội tóc giả và áo choàng trong quá trình xét xử.

Theo Điều 63 của Luật Cơ bản Hồng Kông, Cục Tư pháp kiểm soát việc truy tố hình sự và không chịu bất kỳ sự can thiệp nào. Đây là thể chế pháp lý lớn nhất Hồng Kông và có trách nhiệm liên quan đến pháp chế, quản lý xét xử, truy tố, đại diện dân sự, sọan thảo và cải cách pháp lý và nghề pháp lý. Ngoài việc khởi tố các vụ án hình sự tại Hồng Kông, các quan chức của Cục Tư pháp cũng có mặt tại tòa với tư cách đại diện cho chính quyền trong tất cả vụ kiện dân sự kiện chính quyền. Là một cơ quan bảo vệ quyền lợi công chúng, cơ quan này có thể áp dụng và ấn định đại diện pháp lý thay mặt cho quyền lợi công chúng để tham gia vào việc xét xử các vụ án liên quan đến lợi ích công chúng về vật chất.[13]

Các đơn vị hành chính

18 quận của Đặc khu hành chính Hồng Kông
18 quận của Đặc khu hành chính Hồng Kông

Hồng Kông có 18 quận:


Ranh giới hành chính giữa Victoria City, bán đảo Cửu Long, và Tân Cửu Long đã từng được nêu ra trong luật, nhưng hiện không còn giá trị pháp lý và hành chính nữa.

Toàn cảnh đảo Hồng Kông nhìn từ Cửu Long.

Kinh tế

International Finance Centre, tòa nhà cao nhất tại Hồng Kông
International Finance Centre, tòa nhà cao nhất tại Hồng Kông
Công viên Hong Kong Disneyland trong lễ hội bắn pháo hoa
Công viên Hong Kong Disneyland trong lễ hội bắn pháo hoa
Bài chi tiết: Kinh tế Hồng Kông

Kinh tế Hồng Kông là một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển được xây dựng trên nền kinh tế thị trường, thuế thấp và ít có sự can thiệp kinh tế của chính phủ. Đây là một trung tâm tài chính, thương mại quan trọng và là nơi tập trung nhiều đại bản doanh công ty của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nếu tính về GDP bình quân đầu người và tổng sản phẩm nội địa, Hồng Kông là trung tâm đô thị giàu nhất ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Trong khi tiếp tục duy trì những luật lệ và thông lệ của chính quyền Anh trước đây, chính quyền Hồng Kông nhường quyền điều khiển thị trường cho các lực lượng thị trường và khu vực tư nhân. Kể từ năm 1980, nhìn chung, chính quyền đã đóng một vai trò thụ động theo chủ nghĩa không can thiệp tích cực. Hồng Kông thường xuyên được xem, đặc biệt bởi nhà kinh tế Milton Friedman, là một hình mẫu của chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh về mặt thực tiễn. Hồng Kông được xếp hạng nhất thế giới về tự do kinh tế trong 13 năm liên tục, kể từ khi có chỉ số này vào năm 1995. Thành phố này cũng nằm ở vị trí thứ nhất trong Báo cáo Tự do Kinh tế của Thế giới.[14][15]

Hồng Kông có ít đất bằng phẳng và ít tài nguyên thiên nhiên, do đó phải nhập khẩu hầu hết thực phẩm và nguyên liệu. Hồng Kông là vùng lãnh thổ thương mại lớn thứ 11 thế giới[16], với tổng giá trị nhập khẩuxuất khẩu vượt quá GDP của mình. Năm 2006, có 114 nướclãnh sự quán ở Hồng Kông, hơn bất cứ thành phố nào trên thế giới. Phần lớn xuất khẩu của Hồng Kông là tái xuất khẩu, là những sản phẩm sản xuất bên ngoài lãnh thổ Hồng Kông, đặc biệt ở Trung Hoa đại lục và được phân phối thông qua Hồng Kông. Thậm chí ngay cả trước khi chuyển giao chủ quyền cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Hồng Kông đã thiết lập các quan hệ thương mại và đầu tư sâu rộng với Trung Hoa đại lục. Vị thế tự trị của nó đã giúp Hồng Kông có thể phục vụ như một điểm cửa ngõ cho đầu tư và các nguồn lực chảy vào Trung Hoa đại lục. Hồng Kông cũng là một điểm nối cho các chuyến bay từ Trung Hoa Dân Quốc từ trên đảo Đài Loan vào đại lục.

giấy bạc Hong Kong
giấy bạc Hong Kong
đồng xu Hong Kong
đồng xu Hong Kong

Đơn vị tiền tệ của Hồng Kông là Dollar Hồng Kông. Kể từ năm 1983, đồng tiền này đã được neo chặt vào Dollar Mỹ. Đồng tiền này được phép trao đổi với một dải tỷ giá từ 7,75 và 7,85 dollar Hồng Kông ăn một dollar Mỹ. Sở giao dịch chứng khoán Hồng Kông lớn thứ 6 thế giới, với giá trị vốn hóa thị trường khoảng 1.710 tỷ USD. Năm 2006, giá trị các cuộc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng thực hiện ở Hồng Kông xếp thứ 2 thế giới chỉ sau thị trường chứng khoán Luân Đôn.[17]

Kinh tế Hồng Kông chủ yếu là dịch vụ. Tỷ trọng của khu vực này trong GDP của Hong Kong lên đến 90%. Trong quá khứ, chế tạo là khu vực quan trọng nhất của nền kinh tế do Hồng Kông đã tiến hành công nghiệp hóa sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Với xuất khẩu làm động lực, kinh tế Hong Kong đã tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm là 8,9% trong thập niên 1970. Hồng Kông đã trải qua một quá trình chuyển dịch nhanh sang một nền kinh tế dịch vụ trong những năm 1980, khi tốc độ tăng trưởng đạt 7,7% bình quân mỗi năm. Phần lớn các hoạt động sản xuất được chuyển qua Trung Hoa đại lục trong thời kỳ này và công nghiệp hiện nay chỉ còn chiếm 9% nền kinh tế. Khi Hồng Kông đã lớn mạnh để trở thành một trung tâm tài chính, tăng trưởng chậm lại xuống còn 2,7% mỗi năm trong những năm 1990. Cùng với Singapore, Hàn Quốc, và Đài Loan, Hồng Kông được gọi là một trong Bốn con hổ châu Á do tốc độ tăng trưởng cao và công nghiệp hóa nhanh chóng trong thời kỳ từ thập niên 1960 đến thập niên 1990.

Năm 1998, do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, nền kinh tế này đã sụt giảm 5,3%. Sau đó, nền kinh tế phục hồi với tốc độ tăng trưởng tới 10% năm 2000 dù giảm phát vẫn dai dẳng. Năm 2003, kinh tế Hong Kong đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch SARS, làm cho tốc độ tăng trưởng chỉ còn 2,3%. Sự hồi sinh của nhu cầu nội địa và bên ngoài đã dẫn đến một sự hồi sinh mạnh mẽ trong năm sau đó do sự chi phí giảm đã tăng năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Hồng Kông. Giai đoạn giảm phát kéo dài 68 tháng đã chấm dứt vào giữa năm 2004 với chỉ số lạm phát theo giá hàng tiêu dùng xoay quanh mức zero.[18] Từ 2003, chương trình Du lịch cá nhân đã cho phép những du khách từ một số thành phố Trung Quốc đại lục thăm Hồng Kông mà không cần đi theo đoàn. Kết quả là, ngành du lịch Hồng Kông đã thu lợi từ sự gia tăng du khách đại lục, đặc biệt là sự mở cửa của Khu giải trí Hong Kong Disneyland năm 2005. Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ với sự tin tưởng trở lại của người tiêu dùng và sự gia tăng thương mại.

Hồng Kông đặt ra mức thuế cá nhân và thuế doanh nghiệp thấp. Lo lắng trước việc thuế thu được quá ít và việc chi tiêu của chính quyền phụ thuộc quá nặng nề vào nguồn thuế từ các giao dịch bất động sản, chính quyền đã xem xét đưa ra một chính sách về Thuế dịch vụ và hàng hóa. Phản ứng ban đầu của người dân là hoàn toàn không hưởng ứng, vì họ lo rằng việc đánh thuế sẽ đặt gánh nặng quá mức lên người nghèo, và sẽ ảnh hưởng tới sự thu hút của Hồng Kông trong lĩnh vực du lịch. Vào tháng 1 năm 2007, chính quyền đã rút lại đề xuất này.

Năm 2006, GDP của Hồng Kông xếp thứ 40 thế giới với giá trị 253,1 tỷ USD. GDP bình quân đầu người xếp hạng 14 với mức 36.500 USD, cao hơn mức này của Canada, Nhật Bản, Thụy Sỹ, và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, và vẫn cao hơn nhiều mức của Trung Quốc.[19]

Văn hóa

Một bức tượng trên Đại lộ các ngôi sao, một nơi tôn vinh điện ảnh Hồng Kông.
Một bức tượng trên Đại lộ các ngôi sao, một nơi tôn vinh điện ảnh Hồng Kông.
Bruce Lee đấu với Chuck Norris trong phim Way of the Dragon.
Bruce Lee đấu với Chuck Norris trong phim Way of the Dragon.
Bài chi tiết: Văn hóa Hồng Kông

Hồng Kông thường được mô tả là nơi phương Đông gặp phương Tây, điều này được phản ánh trong hạ tầng kinh tế, giáo dụcvăn hóa đường phố. Trên một góc phố nào đó, có thể có các tiệm truyền thống Trung Hoa bán thảo dược Trung Hoa, các đồ dùng linh tinh có liên quan đến Phật giáo hoặc bát súp vi cá mập bằng chất dẻo. Nhưng tại góc phố tiếp theo, người ta có thể tìm thấy các rạp hát đang chiếu các các bộ phim ăn khách của Hollywood, một quán rượu theo phong cách Anh, một nhà thờ Công giáo hoặc một quán thức ăn nhanh McDonald's. Ngôn ngữ chính thức của lãnh thổ này là tiếng Hoa và tiếng Anh; các các biển hiệu bằng hai thứ tiếng này hiện diện khắp nơi ở Hồng Kông. Chính quyền, cảnh sát và phần lớn các nơi làm việc đều sử dụng cả hai thứ tiếng. Sự cai trị của người Anh đã kế thúc một thập kỷ trước nhưng văn hóa phương Tây vẫn thấm sâu vào Hồng Kông và cùng tồn tại liền một mạch với triết lý và phong tục truyền thống phương Đông.

Hồng Kông có một cuộc sống về đêm náo nhiệt ở các quận giải trí — Lan Kwai Fong, Tsim Sha Tsui, Wan Chai... Những nơi này thường được người địa phương, du khách nước ngoài viếng thăm. Vào một ngày trời quang, Đỉnh Victoria cho khách tham quan một tầm nhìn ngoạn mục về thành phố này. Thành phố này có một khu đi dạo dọc theo bến nước Tsim Sha Tsui, nơi các đôi uyên ương ưa thích. Các hoạt động mua sắm thường diễn ra về đêm với ví dụ cụ thể là ở Chợ đêm phố Temple nơi người ta cũng có thể xem Kinh Kịch miễn phí.

Ẩm thực của thành phố cũng phong phú đa dạng. Ngoài ẩm thực phong phú đa dạng của các vùng miền Trung Quốc ra, đặc biệt là các món hải sản, Hồng Kông cũng có các nhà hàng Nhật, Âu, Mỹ, Hàn và các nước khác. Các món ăn địa phương phục vụ ở các cha chaan teng (phòng trà) và dai pai dong (quầy bán đồ ăn) cũng phổ biến. Dân Hồng Kông nghiêm túc trong việc ăn uống và nhiều đầu bếp từ khắp nơi đến đây để biểu diễn tài nghệ cho thực khách.

Trong khi Hồng Kông là một trung tâm thương mại toàn cầu, có lẽ sản phẩm xuất khẩu nổi tiếng nhất của thành phố này là ngành giải trí, đặc biệt là thể loại võ thuật, nhiều minh tinh Hollywood xuất thân từ Hồng Kông như: Lý Tiểu Long, Châu Nhuận Phát, Jackie Chan, Michelle Yeoh, và Jet Li. Những nhà làm phim Hồng Kông cũng làm nên sự nghiệp ở Hollywood như John Woo, Wong Kar-wai, Tsui Hark và các biên đạo võ thuật đã thiết kế các cảnh giao chiến trong các phim Matrix trilogy, Kill BillNgọa hổ tàng long. Nhiều phim sản xuất tại Hồng Kông cũng nhận được sự công nhận quốc tế như Chungking Express, Infernal Affairs, Shaolin Soccer, Rumble in the BronxIn the Mood for Love. Nhà làm phim nổi tiếng Quentin Tarantino từng cho rằng ông chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi điện ảnh hành động Hồng Kông. Hồng Kông cũng là trung tâm chính của thế giớ về thể loại nhạc cantopop.[20] Trong lúc lãnh thổ này là nơi có nhiều ngôi sao, văn hóa karaoke cũng là một phần hoạt động về đêm của Hồng Kông.

Chính quyền Hồng Kông cũng ủng hộ các cơ quan văn hóa như Bảo tàng Di sản Hồng Kông, Bảo tàng Nghệ thuật Hồng Kông, Học viện Nghệ thuật biểu diễn Hồng KôngGiàn nhạc giao hưởng Hồng Kông. Ngoài ra, Cục dịch vụ Văn hóa và Giải trí của chính quyền cũng bao cấp và tài trợ cho việc đưa các diễn viên quốc tế đến biểu diễn tại Hồng Kông.

Tôn giáo

Tượng Thiên Đàn Đại Phật tại Lạn Đầu, Hồng Kông, bức tượng phật ngoài trời lớn nhất thế giới.
Tượng Thiên Đàn Đại Phật tại Lạn Đầu, Hồng Kông, bức tượng phật ngoài trời lớn nhất thế giới.
Bài chi tiết: Tôn giáo Hồng Kông

Hồng Kông được hưởng mức độ tự do tôn giáo cao, một quyền được gìn giữ thiêng liêng và được bảo vệ thông qua bản hiến pháp của mình là Luật Cơ bản. Đa số dân chúng Hồng Kông, khoảng 6 triêu người, theo Phật giáo kiểu dân gian giống như ở Trung Hoa đại lục. Tổng số dân Hồng Kông ít hơn 7 triệu người, tức là khoảng gần 90% dân chúng theo Phật giáo (xem Phật giáo theo quốc gia). Một cộng đồng Thiên Chúa giáo có quy mô đáng kể hiện diện ở đây với khoảng 500.000 dân, chiếm 7% tổng dân số; cộng đồng này gần như chia đều giữa Công giáo và đạo Tin lành. Cũng có khoảng 200.000 tín đồ theo Phật giáoĐạo giáo chính thống. Ngoài các tôn giáo lớn ra, còn có một số tín đồ theo các tôn giáo khác nữa, bao gồm 23.000 tín đồ Mormon, 3.000 Do Thái giáo và một số tín đồ Hồi giáo, Hindu giáo, SikhBahá'í. Ngoài các chức năng tôn giáo, nhiều tổ chức tôn giáo đã thiết lập trường học và cung cấp các tiện ích phúc lợi xã hội.

Tính ngưỡng tôn giáo của Hồng Kông có liên hệ với vai trò lúc ban sơ của khu vực này là một làng chài. Thiên Hậu (hay Mụ Tổ), thần bảo hộ những người đi biển, đã được tôn thờ với nhiều đền thờ khắp Hồng Kông trong 300 năm qua. Hồng Thánh, một vị thần bảo hộ những người đi biển khác, cũng được tôn thờ trong nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, các cư dân Hồng Kông, đặc biệt là những người thuộc thế hế hệ già tuổi hơn, thường viếng các đền chùa Đạo giáo và Phật giáo để cầu xin thần linh ban phước lành, sức khỏe hoặc cầu phát tài. Người ta dâng lễ trái cây hoặc thực phẩm và đốt nhang để cầu khấn.

Với việc chuyển giao Hồng Kông cho Trung Quốc, đã có một số quan ngại đáng kể về quyền tự do tôn giáo ở Hồng Kông. Cho đến nay, nỗi lo ngại này đã tỏ ra không có căn cứ. Dù Bắc Kinh đã cấm giáo phái Pháp Luân Công năm 1999, những môn đồ của giáo phái này vẫn được tự do hành đạo môn phái này ở Hồng Kông. Tương tự, Nhà thờ Công giáo được tự do bổ nhiệm các linh mục của mình ở Hồng Kông, không giống như ở Trung Hoa đại lục nơi thể chế 'Công giáo' được công nhận là Hội ái quốc Thiên Chúa giáo Trung Quốc-nơi mà các giám mục và các mục sư được Bắc Kinh bổ nhiệm (dù cũng có một bộ phận bất hợp pháp và không chính thức của nhà thờ Công giáo vẫn giữ liên lạc với Tòa thánh Vatican). Một vấn đề lớn trong tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Vatican là việc Bắc Kinh cứ khăng khăng yêu cầu Vatican chấm dứt quan hệ với Trung Hoa Dân quốc.

Hồng Kông là nơi duy nhất ở Trung Quốc có những người truyền giáo từ Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô (Nhà thờ Mormon) có thể tu hành. Nhà thờ này có một đền ở Hồng Kông được Gordon B. Hinckley hiến dâng vào ngày 26-27 tháng 5 năm 1996. Các thành viên của Nhà thờ xem Hinkley, chủ tịch của Nhà thờ này, là một giáo đồ của Chúa.

Kiến trúc

Tháp Bank of China lúc hoàng hôn.
Tháp Bank of China lúc hoàng hôn.
Bài chi tiết: Kiến trúc Hồng Kông

Do đất đai chật chội, còn ít tòa nhà lịch sử tồn tại ở Hồng Kông. Thay vào đó, thành phố này đã trở thành một trung tâm của kiến trúc hiện đại, đặc biệt là ở trong và xung quanh khu vực Trung tâm. Các ngôi nhà chọc trời thương mại dày đặc giữa khu Trung tâm và khu Causeway Bay sắp hàng dọc theo Bến cảng Victoria là một trong những địa điểm thu hút du khách của Hồng Kông và được liệt vào các đường chân trời đẹp nhất thế giới. Bốn trong số 15 tòa nhà chọc trời cao nhất thế giới nằm ở Hồng Kông. Ở Cửu Long, nơi đã từng là một khu định cư vô chính phủ có tên gọi là Thành trại Cửu Long (Kowloon Walled City), các quy định hạn chế chiều cao các kết cấu đã có hiệu lực cho đến năm 1998 với việc đóng cửa Sân bay Kai Tak gần đó. Với việc dỡ bỏ hạn chế chiều cao, nhiều nhà chọc trời mới ở Kowloon đang được xây dựng, bao gồm tòa nhà International Commerce Centre khi hoàn thành vào năm 2010 sẽ là tòa nhà cao thứ 4 thế giới.

Một trong những tòa nhà nổi bật ở Hồng Kông là tòa tháp Trung Ngân (Bank of China Tower) do I. M. Pei thiết kế, tòa nhà hoàn thành năm 1990 và hiện là tòa nhà chọc trời cao thứ ba Hồng Kông. Tòa nhà này đã thu hút tranh cãi nãy lửa khi bắt đầu dự án vì các cạnh sắc nhọn của nó bị người ta cho là đẩy năng lượng phong thủy âm vào trung tâm Hồng Kông. Trước tòa nhà này, một cấu trúc nổi tiếng khác là Tòa nhà Trụ sở của HSBC, hoàn thành năm 1985. Nó được xây trên địa điểm của tòa nhà chọc trời đầu tiên của Hồng Kông được hoàn thành năm 1935 và đã trở thành chủ đề của một đấu tranh bảo tồn di sản khốc liệt cuối thập niên 1970. Cả hai tòa nhà của ngân hàng được in trên nhiều tờ giấy bạc Hồng Kông.

Tòa nhà cao nhất ở Hồng Kông là International Finance Centre 2. Một trong những dự án xây dựng lớn nhất ở Hồng Kông và của thế giới là Sân bay Quốc tế Hồng Kông mới ở Chek Lap Kok gần Lantau, một dự án lấn biển khổng lồ được kết nối với trung tâm Hồng Kông bằng Lantau Link nổi bật bằng ba cây cầu lớn mới là: Thanh Mã, cây cầu treo lớn thứ 6 thế giới; Cấp Thủy Môn, cây cầu dây văng (cable-stayed bridge) dài nhất thế giới dành cho cả giao thông đường bộ và đường sắt; và Đinh Cửu, cây cầu dây văng bốn nhịp đầu tiên của thế giới.

Đặc biệt đáng chú ý về cảnh chân trời và phố xá Hồng Kông là sự có mặt khắp nơi của các bất động sản nhà ở công, bắt đầu như là một chương trình tái định cư cho những người chiếm đất thập niên 1950 và ngày nay đã cung cấp nhà ở cho gần một nửa dân số. Các khu bất động sản này đã được nâng cấp từ các khu căn hộ không có thang máy 7 tầng với nhà vệ sinh công cộng và các tiện nghi tối thiểu, phân phối 24 m2 cho mỗi người lớn, nếu cho trẻ con thì được 12 m2/người thành các tòa nhà cao tầng chất lượng cao. Chương trình cho thuê công cộng này đã được bổ sung vào Kế hoạch Sở hữu Nhà do chính phủ trợ cấp.

Giao thông

Bài chi tiết: Giao thông Hồng Kông
Cảnh phố xá tấp nập tại Causeway Bay, Đảo Hồng Kông
Cảnh phố xá tấp nập tại Causeway Bay, Đảo Hồng Kông
Star Ferry huyền thoại trên tuyến đường 9 phút giữa các cảng.
Star Ferry huyền thoại trên tuyến đường 9 phút giữa các cảng.

Hồng Kông có một mạng lưới giao thông tinh vi và phát triển cao, bao gồm cả mạng lưới giao thông công cộng lẫn tư nhân. Hệ thống thống thanh toán bằng thẻ thông minh Octopus card có thể được sử dụng để trả cước phí đi lại cho hầu như tất cả các tuyến đường sắt, xe buýt và phà ở Hồng Kông. Thẻ Octopus sử dụng công nghệ RFID (Nhận dạng bằng tần số radio) cho phép người sử dụng có thể quét thẻ mà không cần lấy nó ra khỏi ví hoặc túi xách. Tất cả những bãi đậu xe có đồng hồ đếm giờ ở Hồng Kông chỉ chấp nhận thanh toán bằng thẻ Octopus và việc thanh toán bằng thẻ Octupus có thể thực hiện ở nhiều bãi đỗ xe.

Địa hình Hồng Kông chủ yếu là đồi và dốc và một số phương pháp giao thông không thông thường đã được sáng chế để dễ dàng di chuyển lên xuống trên các sườn dốc. Ví dụ, tàu điện Peak Tram nối giữa khu Trung tâm và Đỉnh Victoria từ năm 1888 bằng cách men theo sườn núi. Ở Trung Tây khu, có một hệ thống thang cuốn lớn và các vỉa hè di động, bao gồm hệ thống thang cuốn có mái che ngoài trời dài nhất thế giới, đó là Thang cuốn Mid-levels.

Hồng Kông có nhiều phương thức vận tải đường sắt công cộng. Hai hệ thống tàu điện ngầm cho thành phố là MTR (Mass Transit Railway) và KCR có chức năng kết nối giữa Hồng Kông và Trung Hoa đại lục (KCR cũng vận hành một hệ thống đường sắt nhẹ ở Tây Bắc Tân Giới). Hệ thống MTR do công ty MTR Corporation Limited vận hành còn Kowloon-Canton Railway Corporation thì vận hành KCR. Hệ thống xe điện hoạt động ở các khu vực phía Bắc Hồng Kông và là hệ thống xe điện duy nhất trên thế giới chỉ chạy loại xe buýt hai tầng.

Năm công ty riêng rẽ (KMB, Citybus, NWFB, Long WinNLB) cung cấp dịch vụ xe buýt công cộng nhượng quyền ở Hồng Kông. Xe buýt hai tầng được du nhập vào Hồng Kông năm 1949. Hiện loại xe hai tầng này được sử dụng riêng biệt ở Hồng Kông, Singapore, DublinVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Tuy nhiên, xe buýt hai tầng vẫn được sử dụng cho các tuyến có nhu cầu thấp hoặc các tuyến đường có năng lực vận tải thấp. Xe buýt một tầng được sử dụng chủ yếu ở Đảo Lạn Đầu và phục vụ đêm. Phần lớn các tuyến xe buýt nhượng quyền bình thường ở Hồng Kông hoạt động đến tận 1h đêm. Xe buýt nhẹ công cộng chạy suốt chiều dài và chiều rộng của Hồng Kông, qua những khu vực nơi các tuyến xe buýt tiêu chuẩn không thể đến hoặc không thể chạy thường xuyên, nhanh chóng hoặc trực tiếp. Xe taxi cũng được sử dụng rộng rãi khắp Hồng Kông. 99% xe taxi của Hồng Kông chạy bằng khí hỏa lỏng, phần còn lại chạy bằng dầu diesel.

Phần lớn dịch vụ vận tải bằng phà do các công ty vận tải phà có giấy phép, phục vụ các đảo ngoài khơi, các khu phố mới trong Bến cảng Victoria, Macau và các thành phố ở Trung Hoa đại lục. Loại phà xưa nhất, Star Ferry huyền thoại hoạt động trong bốn tuyến giữa Kowloon và Đảo Hồng Kông và đã cung cấp dịch vụ vận chuyển có hiệu quả về chi phí trong suốt một thế kỷ. Star Ferry phổ thông đối với những du khách ưu thích ngắm nhìn toàn cảnh bến cảng và đường chân trời, nhiều người dân Hồng Kông xem Star Ferry à một trong những biểu tượng văn hóa nổi bật nhất của thành phố. Ngoài ra, các phà 78 "kai-to" được cấp phép phục vụ cho các khu định cư ven biển xa xôi.

Hồng Kông có một sân bay quốc tế còn hoạt động có tên gọi Sân bay Quốc tế Hồng Kông tọa lạc tại Chek Lap Kok. Năm 1998, sân bay này đã thay thế sân bay quốc tế trước đây của Hồng Kông là Sân bay Kai Tak nằm ở Thành phố Cửu Long, một sân bay đã được đóng cửa vào thời điểm thay thế. Sau một thời gian chậm trễ trong các hệ thống vận chuyển hàng hóa trong những tháng đầu, sân bay này hiện đang đóng vai trò là trung tâm vận chuyển cho khu vực Đông Nam Á và là trung tâm hoạt động chính của các hãng hàng không Cathay Pacific Airways, Dragonair, Air Hong Kong, Oasis Hong Kong Airlines, Hong Kong AirlinesHong Kong Express. Ngoài ra, Skytrax đã bầu chọn Sân bay quốc tế Hồng Kông là sân bay tốt nhất thế giới và hãng hàng không Cathay Pacific Airways đã được bầu chọn là hãng hàng không tốt nhất thế giới từ năm 2001 đến năm 2005. Sân bay Quốc tế Hồng Kông đã phục vụ hơn 36 triệu hành khách trong năm 2004 và 40 triệu khách trong năm 2005.

Các phương tiện đi vào sân bay có 'Airport Express', 'CityFlyers' và 'Airbuses'. Các dịch vụ vận tải này kết nối sân bay với phần còn lại của Hồng Kông. Thời gian khách đi bằng Airport Express đến Trung tâm thành phố ở Đảo Hồng Kông chỉ mất 23 phút. Việc mở cửa gần đây của Nhà ga Sunny Bay của MTR cho phép người ta đến Khu Giải trí Disneyland Hồng Kông dễ dàng hơn.

Trong khi lưu thông ở Trung Hoa đại lục lái xe bên phải, Hồng Kông vẫn duy trì luật lệ giao thông riêng của mình với việc lưu thông lái xe bên trái. Có khoảng 517.000 xe cơ giới được đăng ký ở Hồng Kông, 64% số đó là xe hơi tư nhân. Là một đô thị xa hoa ở châu Á, Hồng Kông nổi tiếng thế giới là nơi có số lượng xe hơi Rolls-Royce đầu người cao nhất thế giới.[21] Lưu ý rằng mã đường quốc lộ Hồng Kông sử dụng một hệ thống báo hiệu như Anh quốc trong khi hệ thống báo hiệu của Trung Quốc thì khác hẳn.

Cơ cấu dân số

Dân số Hồng Kông tăng nhanh chóng trong thập niên 1990, đạt 6,99 triệu vào năm 2006.[22] Khoảng 95% dân Hồng Kông là gốc Trung Hoa, đa số dân của Hồng Kông là Quảng Đông hoặc từ các nhóm dân tộc như Người Khách giaTriều Châu. tiếng Quảng Đông, một ngôn ngữ Trung Quốc được sử dụng phổ biến ở phía Nam Trung Quốc là phương ngữ chính thức của Hồng Kông. Tiếng Anh cũng là một ngôn ngữ chính thức được sử dụng rộng rãi bởi hơn 13 dân số.[23] Các bảng hiệu bằng tiếng Anh và tiếng Hoa thường rất phổ biến khắp lãnh thổ này. Kể từ năm 1997, các nhóm dân nhập cư mới từ Trung Hoa Đại Lục đã đến đây. Việc sử dụng tiếng Quan Thoại, ngôn ngữ chính thức của Trung Quốc cũng đang tăng lên. Việc hội nhập vào nền kinh tế Đại lục đã dẫn đến nhu cầu gia tăng số người nói tiếng Phổ thông Trung Quốc.

Phần còn lại 5% dân số bao gồm các dân tộc không phải là người Hoa là một nhóm dân cư có thể thấy rất rõ dù số lượng của nhỏ. Một cộng đồng Nam Á bao gồm người Ấn Độ, Nepal. Dân tị nạn người Việt đã trở thành các cư dân thường trú của Hồng Kông. Khoảng 140.000 người Philippines làm việc ở Hồng Kông với những công việc như những người giúp việc nhà. Một số công nhân cũng đến từ Indonesia. Có một số người châu Âu, người Mỹ, người Úc, người Canada, người Nhật, và người Triều Tiên làm việc trong các lĩnh vực tài chính và thương mại.

Nếu được xem là một xứ phụ thuộc, Hồng Kông là một trong quốc gia/lãnh thổ phụ thuộc có mật độ dân dày đặc nhất, với mật độ chung hơn 6200 người trên km². Hồng Kông có tỷ lệ sinh 0,95 trẻ trên một người phụ nữ,[24] một trong những nơi thấp nhất thế giới và thấp xa so với tỷ lệ 2,1 trẻ em trên một phụ nữ cần để duy trì mức dân số hiện hữu. Tuy nhiên, dân số của Hồng Kông tiếp tục tăng do làn sóng dân di cư từ Trung Hoa Đại Lục khoảng 45.000 người mỗi năm. Tuổi thọ trung bình của dân Hồng Kông là 81,6 năm năm 2006, cao thứ 5 thế giới.

Dân số Hồng Kông tập trung cao độ vào một khu vực trung tâm bao gồm Cửu Long, Hồng Kông Cửu Long và phía Bắc Đảo Hồng Kông. Phần còn lại dân cư thưa thớt với hàng triệu dân rải rác không đều khắp Tân Giới, phía Nam Đảo Hồng Kông và Đảo Lantau. Một số lượng đang tăng công dân đang sống ở Thâm Quyến và đi lại bằng xe hàng ngày từ Trung Hoa Đại Lục.

Giáo dục

Đại học Khoa học Công nghệ Hồng Kông
Đại học Khoa học Công nghệ Hồng Kông
Đại học Bách khoa Hồng Kông
Đại học Bách khoa Hồng Kông
Bài chi tiết: Giáo dục Hồng Kông

Là một thuộc địa Anh, hệ thống giáo dục của Hồng Kông gần như theo hệ thống giáo dục của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, và đặc biệt là hệ thống giáo dục Anh. Tại các cấp giáo dục chuyên nghiệp bậc đại học, cả hai hệ thống giáo dục Anh và Mỹ đầu tồn tại. Đại học Hồng Kông (HKU), là trường đại học cổ nhất ở lãnh thổ này, đã có truyền thống dựa trên kiểu mẫu của Anh nhưng đã áp dụng nhiều yếu tố của Mỹ trong những năm gần đây. Xếp thứ hai sau HKU về thời gian thành lập là Đại học Trung Hoa Hồng Kông (CUHK) theo mô hình Mỹ với một hệ thống viện đặc trưng của Anh. Đại học Khoa học Công nghệ Hồng Kông (HKUST) được thành lập theo mô hình giáo dục bậc đại học của Mỹ. Có 9 trường đại học công lập ở Hồng Kông và một số các cơ sở giáo dục bậc đại học tư thục. Đại học Lĩnh Nam ở Đồn Môn là một ví dụ tốt, đây là trường đại học duy nhất ở Hồng Kông có đào tạo kiểu giáo dục cơ bản (liberal arts education). Các trường công của Hồng Kông do Phòng Giáo dục và Nhân lực của Đặc khu Hành chính Hồng Kông quản lý.[25] Hệ thống giáo dục của Hồng Kông có đặc điểm: 3 năm mẫu giáo không bắt buộc, tiếp theo là 6 năm phổ thông cơ sở và 3 năm phổ thông trung học bắt buộc và 2 năm phổ thông cao cấp (senior secondary education) không bắt buộc để được cấp bằng bằng trung học Hồng Kông (Hong Kong Certificate of Education Examination) và một khoá 2 năm học chương trình cao đẳng đại học để nhận bằng giáo dục cao cấp Hồng Kông (Hong Kong Advanced Level Examination). Một hệ thống giáo dục trung học cao cấp cải cách kiểu “3+3+4”, trong đó có ba năm trung học thông thường, ba năm trung học cao cấp và bốn năm cao đẳng, đại học sẽ được áp dụng từ năm 2009 trở đi. Ngoài ra cũng có các cơ sở giáo dục bậc đại học đào tạo và cấp bằng cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ, chứng chỉ đại học đại cương (associate degree), cũng như các bằng cấp bậc đại học khác. Phần lớn các trường phổ thông hỗn hợp ở Hồng Kông thuộc trong ba dạng sau: trường công (ít), trường được bao cấp và trường tư. Các trường được bao cấp cho đến nay là loại phổ biến nhất, bao gồm trợ giúp của chính quyền và trường trợ cấp (grant schools) được quản lý bởi các tổ chức từ thiện thường có liên quan tới các tổ chức tôn giáo (chủ yếu là Thiên Chúa giáo, Công giáo nhưng cũng có một số thuộc về các tổ chức Phật giáo, Đạo giáo, Hồi giáo. Còn các trường tư thường được quản lý bởi các tổ chức Thiên Chúa giáo có kỳ thi đầu vào dựa vào kết quả học tập hơn là khả năng tài chính. Ngoài hệ thống này là các trường dưới dạng Direct Subsidy Scheme (chương trình trực tiếp tài trợ) và các trường quốc tế tư thục.

Quân đội

Hồng Kông chưa bao giờ có lực lượng quân đội riêng bởi vì lãnh thổ này chưa bao giờ là một nhà nước có chủ quyền, ngoại trừ lực lượng bổ trợ tình nguyện như Quân đoàn Hồng Kông Hoàng gia (quân tình nguyện). Các vấn đề quốc phòng đã bị phụ thuộc vào nhà nước kiểm soát Hồng Kông. Trước khi Anh trao trả chủ quyền Hồng Kông cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, việc bảo vệ quốc phòng đã được quân đội Anh đảm nhận và quân đội Anh đã đóng quân ở những doanh trại khắp Hồng Kông, bao gồm cả British Forces Overseas Hong Kong. Nguồn tài chính cho các đội quân này do Chính quyền Hồng Kông hỗ trợ.

Chính quyền Nhân dân Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã tiếp quản chủ quyền đối với Hồng Kông vào ngày 1 tháng 7 năm 1997 và đã đóng một đội quân đồn trú Quân Giải phóng Nhân dân để quản lý các công việc quốc phòng của Hồng Kông. Dù đội quân đồn trú này có giá trị quân sự trên thực tế ít, việc đóng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc ở Hồng Kông là một biểu tượng của việc nắm giữ chủ quyền của chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với Hồng Kông.

Theo Luật Cơ bản của Hồng Kông, các lực lượng quân sự đóng ở Hồng Kông sẽ không được can thiệp vào các công việc dân sự của địa phương; Chính quyền Hồng Kông sẽ phải chịu trách nhiệm duy trì trật tự công cộng. Quân đồn trú tại Hồng Kông, bao gồm các binh chủng lục quân, hải quân, và không quân, dưới sự chỉ huy của Hội đồng Quân sự Trung ương Trung Quốc. Sau đó, quân đồn trú đã mở cửa các doanh trại trên Đảo StonecuttersStanley cho công chúng để tăng cường hiểu biết và tin cậy giữa quân đội và dân chúng.

Dưới thời cai trị của Anh, dân Hồng Kông đã được phép gia nhập British Forces Overseas Hong Kong. Tuy nhiên, dưới thời chủ quyền Trung Quốc, họ lại không được phép gia nhập vào Bộ đội đồn trú Hồng Kông của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.[cần chú thích]

Xếp hạng quốc tế

Bảng xếp hạng quốc tế Hồng Kông
Ngày Cuộc thi Tổ chức đăng cai Xếp hạng Ghi chú
2001–05 Các sân bay tốt nhất thế giới Skytrax 1/155 quốc gia Xếp hạng nhất trên 155 nước
2002–04 Xếp hạng các cảng container trên thế giới Xêp hạng cảng thế giới AAPA 2/10 cảng Xếp hạng nhì trên 50 cảng lớn nhất thế giới
2002 Xếp hạng IQ Đại học Ulster 1/185 quốc gia Xếp hạng nhất trên 185 quốc gia
2005 Chỉ số Sự sẵn sàng hệ thống (NRI) Diễn đàn Kinh tế Thế giới 11/115 quốc gia Xếp hạng 11 trên 115 quốc gia
2005 Chỉ số chất lượng sống toàn thế giới The Economist 18/111 quốc gia Xếp hạng 18 trên 111 nước
2006 Nghiên cứu thứ 6 hàng năm chính phủ điện tử (Đại học Brown) Chính phủ điện tử toàn cầu 20/198 nước Xếp hạng 20 trên 198 nước
2006 Chỉ số tự do báo chí hàng năm toàn thế giới năm 2006 Phóng viên không biên giới 59/168 quốc gia Xếp hạng 59 trên 168 quốc gia
2006 số nhận thức tham nhũng Transparency International 15/163 quốc gia Xếp hạng 15 trên 163 nước
2006 Niên giám tính cạnh tranh thế giới 2006 IMD International 2/61 nền kinh tế Xếp hạng nhì trên 61 nền kinh tế (quốc gia và vùng lãnh thổ)
2006 World City's Skyline/Skyscrapers Emporis Data Committee (EDC) 1/100 thành phố lớn Xếp hạng nhất trên tất cả các thành phố lớn của thế giới. This listing ranks cities by the visual impact of their skylines.
2006 Báo cáo tính cạnh tranh toàn cầu - Xếp hạng chỉ số tính cạnh tranh phát triển World Economic Forum 11/125 quốc gia Xếp hạng 11 trên 125 nước
2006 Các sân bay tốt nhất thế giới Skytrax 2/165 quốc gia Xếp hạng nhì trên 165 nước
2006 Chỉ số tính cạnh tranh kinh doanh - BCI World Economic Forum 10/121 quốc gia Xếp hạng 10 trên 121 nước
2006 Chỉ số phát triển con người - HDI United Nations 22/177 quốc gia Xếp hạng 22 trên 177 nước
2006 Access Index (p.19) FedEx: The Power of Access - 2006 Access Index 1/75 quốc gia Xếp hạng nhất trên 75 nước
2006 Tính cạnh tranh tiềm tàng Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Nhật Bản (JCER) 1/50 quốc gia Xếp hạng nhất trên 50 quốc gia
2007 Chỉ số tính cạnh tranh du lịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới 6/124 quốc gia Xếp hạng 6 trên 124 quốc gia
2007 Chỉ số tự do kinh tế Heritage Foundation/The Wall Street Journal: 2006 1/157 quốc gia Xếp hạng nhất trên 157 quốc gia trong 13 năm ở dãy.
2007 Thành phố đắt đỏ nhất thế giới ECA International:[1] 1/92 quốc gia Xếp hạng nhất trên 92 địa điểm.

Hình ảnh

Chiết Giang

 

浙江省
Chiết Giang tỉnh
Tên tắt: 浙 Chiết (bính âm: Zhè)
Chiết Giang được tô đậm trên bản đồ
Xuất xứ tên gọi tên cũ của sông Tiền Đường
Kiểu hành chính tỉnh
Thủ phủ
thành phố lớn nhất
Hàng Châu
Bí thư tỉnh ủy Chiết Giang Tập Cận Bình 习近平
Tỉnh trưởng Lữ Tổ Thiện 吕祖善
Diện tích 101.800 km² (thứ 25)
Dân số (2004)
 - Mật độ
47.200.000 (thứ 11)
464/km² (thứ 8)
GDP (2004)
 - trên đầu người
1,12 ngàn tỉ NDT NDT (thứ 4)
23.800 NDT (thứ 4)
HDI (2005) 0,817 (thứ 4) — cao
Các dân tộc chính (2000) Hán - 99.2%
Thủy - 0.4%
Cấp địa khu 11
Cấp huyện 90
Cấp hương
(31 tháng 12, 2004)
1570
ISO 3166-2 CN-33
Website chính thức:
http://www.zhejiang.gov.cn
(chữ Hán giản thể)
Nguồn lấy dữ liệu dân số và GDP:
《中国统计年鉴—2005》/ Niên giám thống kê Trung Quốc 2005 ISBN 7503747382
Nguồn lấy dữ liệu dân tộc:
《2000年人口普查中国民族人口资料》/ Tư liệu nhân khẩu dân tộc dựa trên điều tra dân số năm 2000 của Trung Quốc ISBN 7105054255

Chiết Giang là một tỉnh ven biển phía đông của Trung Quốc. Tên gọi Chiết Giang lấy theo tên cũ của con sông Tiền Đường chảy qua Hàng Châu - tỉnh lỵ Chiết Giang. Tên gọi tắt của tỉnh này là Chiết.

Chiết Giang giáp giới với tỉnh Giang Tô và thành phố Thượng Hải về phía bắc, An HuyGiang Tây về phía tây và Phúc Kiến về phía nam, phía đông giáp Biển Đông Trung Quốc.

 

Lịch sử

Chiết Giang nằm ngoài bán kính ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa thời cổ vào thời nhà Thương (thế kỉ 16 TCN - thế kỉ 11 TCN). Những cư dân nơi này thời đó được gọi chung là người Việt, như là Đông Việt hay là Âu Việt.

Bắt đầu từ thời Xuân Thu, nước Việt nổi lên ở phía Bắc Chiết Giang, nơi chịu hưởng nặng của nền văn minh Trung Hoa ở phương Bắc. Đến đời Việt vương Câu Tiễn, nước Việt đã đạt đến thời kỳ cực thịnh và năm 473 TCN đã có thể đã đánh bại nước Ngô ở phía Bắc, một trong những tiểu quốc mạnh thời bấy giờ. Năm 333 TCN, đến lượt nước Việt bị nước Sở ở phía Tây đánh bại. Năm 221 TCN, đến lượt nước Tần chinh phục được tất cả các tiểu quốc ở Trung Hoa và thành lập một đế quốc Trung Hoa thống nhất.

Dưới đời nhà Tần (221 TCN - 206 TCN) và đời nhà Hán (206 TCN - 220), Chiết Giang thuộc quyền kiểm soát của đế quốc Trung Hoa, tuy vùng này vẫn là biên ải và vùng Nam Chiết Giang chỉ thuộc quyền kiểm soát trên danh nghĩa do các tộc Bách Việt vẫn cư ngụ ở đây với các tổ chức xã hội và chính trị của riêng họ. Cuối đời nhà Hán, Chiết Giang là địa bàn hoạt động của các tướng Nghiêm Bạch Hổ (嚴白虎) và Vương Lãng (王朗). Hai người này đã bị thua về tay hai anh em Tôn Sách (孙策) và Tôn Quyền (孫權) - những người mà cuối cùng đã lập nên nước Ngô (222 - 280), một trong ba nước thời Tam Quốc.

Từ thế kỉ 4, Trung Quốc bắt đầu bị các tộc du mục phương Bắc đánh chiếm - những người đã chiếm được toàn bộ vùng Bắc Trung Quốc và thiết lập Ngũ Hồ thập lục quốc (tuy 16 chỉ là một con số biểu tượng và thực ra có nhiều hơn thế) và Bắc triều. Do đó, những đợt lớn dân di cư từ phía Bắc về đổ về Nam Trung Quốc - nơi tiếp nhận những người tị nạn thời nhà Đông TấnNam triều; điều này đã tăng tốc quá trình Hán hóa vùng Nam Trung Quốc, trong đó có Chiết Giang.

Nhà Tùy tái thống nhất Trung Quốc và xây dựng con kênh lớn Đại Vận Hà nối Hàng Châu với bình nguyên Hoa Bắc, mang lại cho Chiết Giang một đường kết nối quan trọng với các trung tâm của văn minh Trung Hoa. Nhà Đường (618 - 907) cai trị thời hoàng kim của Trung Hoa. Khi đó, Chiết Giang là một phần của Giang Nam Đông đạo (江南東道) và bắt đầu phát triển thịnh vượng. Về sau, khi nhà Đường tan, Chiết Giang chiếm đa phần lãnh thổ của nước Ngô Việt thời Ngũ Đại Thập Quốc.

Chiết Giang
Tiếng Trung: 浙江

Nhà Bắc Tống tái thống nhất Trung Quốc vào khoảng năm 960. Trong thời nhà Tống, sự giầu có thịnh vượng của miền Nam Trung Quốc bắt đầu vượt miền Bắc Trung Quốc. Sau khi miền Bắc bị người Nữ Chân đánh bại vào năm 1127, Chiết Giang vào thời cực thịnh: Hàng Châu, thủ phủ hiện đại, đã là kinh đô của nhà Nam Tống người Hán khi đó đang cố giữ miền Nam Trung Quốc. Nổi tiếng vì vẻ đẹp và sự giàu có, thành phố này có thể đã là thành phố lớn nhất thế giới vào thời đó. [1] Kể từ đó đến nay, trong văn hóa Trung Hoa, cùng với vùng Nam Giang Tô lân cận, vùng Bắc Chiết Giang đã đồng nghĩa với sự xa hoa và giầu có. Chiến thắng của quân Mông Cổ và sự thành lập nhà Nguyên năm 1279 đã kết thúc vai trò quan trọng về chính trị của Hàng Châu, tuy thành phố này vẫn tiếp tục phát triển thịnh vượng; Marco Polo đã đến thăm Hàng Châu, ông gọi thành phố này là "Kinsay" và gọi đây là "thành phố sang trọng và đẹp đẽ nhất" trên thế giới. [2]

Đồ sứ ba chân thời nhà Minh phát hiện tại tỉnh Chiết Giang. Hiện được trưng bày tại viện Smithsonian ở Washington, D.C.
Đồ sứ ba chân thời nhà Minh phát hiện tại tỉnh Chiết Giang. Hiện được trưng bày tại viện SmithsonianWashington, D.C.

Nhà Minh, triều đại đánh đuổi được người Mông Cổ vào năm 1368, là triều đại đầu tiên thiết lập tỉnh Chiết Giang, và kể từ đó ranh giới của tỉnh hầu như không thay đổi.

Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giành được quyền kiểm soát Trung Quốc đại lục vào năm 1949, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đặt tại Đài Loan tiếp tục kiểm soát quần đảo Đại Trần (大陈群岛) ngoài khơi Chiết Giang cho đến năm 1955, thậm chí còn thành lập một chính quyền địa phương Chiết Giang đối đầu tại đó, tạo một tình huống tương tự như tại tỉnh Phúc Kiến ngày nay.

Vùng Nam Chiết Giang nhiều đồi núi và không thích hợp cho nông nghiệp, đã là vùng nghèo và kém phát triển. Tuy nhiên, các cải cách kinh tế của Đặng Tiểu Bình đã đem lại thay đổi đặc biệt cho khu vực này. Nhờ làm việc cần cù, đầu óc kinh doanh, giá lao động thấp, và một tầm nhìn tới thị trường thế giới, vùng Nam Chiết Giang, đặc biệt là các thành phố như Ôn Châu (溫州) và Nghĩa Ô (义乌), đã trở thành một trung tâm xuất khẩu chính yếu. Cùng với sự giầu có truyền thống của vùng Bắc Chiết Giang, điều này đã làm cho Chiết Giang nhảy vọt vượt qua một số tỉnh khác và trở thành một trong những tỉnh giầu nhất của Trung Quốc.

Địa lý

Hàng Châu nhìn từ Hồ Tây.
Hàng Châu nhìn từ Hồ Tây.

Các thành phố lớn:

Các đơn vị hành chính

Các đơn vị hành chính của Chiết Giang
Các đơn vị hành chính của Chiết Giang

Chiết Giang được chia làm 11 đơn vị hành chính, toàn bộ là thành phố thuộc tỉnh (địa cấp thị, 地级市):

Các đơn vị hành chính cấp địa khu trên đây được chia thành 90 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 32 quận (thị hạt khu), 22 thị xã (huyện cấp thị), 35 huyện, và 1 huyện tự trị . Các đơn vị hành chính cấp huyện này lại được nhỏ thành 1570 đơn vị hành chính cấp hương, gồm 761 thị trấn (trấn), 505 hương, 14 hương dân tộc, và 290 phường (nhai đạo).

Xem chi tiết tại Danh sách các đơn vị hành chính tỉnh Chiết Giang .

Các trường đại học và cao đẳng

Hải Nam

 Xin xem các mục từ khác có tên tương tự ở Hải Nam (định hướng).
海南省
Hải Nam tỉnh
Tên tắt: 琼/瓊 Quỳnh (bính âm: Qióng)
Hải Nam được tô đậm trên bản đồ
Xuất xứ tên gọi 海 hải - biển
南 - nam
"phía nam của biển"
Kiểu hành chính tỉnh
Thủ phủ
thành phố lớn nhất
Hải Khẩu
Bí thư tỉnh ủy Hải Nam Uông Khiếu Phong 汪啸风
Tỉnh trưởng Vệ Lưu Thành 卫留成
Diện tích 33.920 km² (thứ 28)
Dân số (2004)
 - Mật độ
8.180.000 (thứ 28)
241/km² (thứ 17)
GDP (2004)
 - trên đầu người
76,94 tỉ NDT (thứ 28)
9410 NDT (thứ 16)
HDI (2005) 0,761 (thứ 13) — trung bình
Các dân tộc chính (2000) Hán - 83%
- 16%
Miêu - 0.8%
Choang - 0.7%
Cấp địa khu 2
Cấp huyện 20
Cấp hương
(31 tháng 12, 2004)
218
ISO 3166-2 CN-46
Website chính thức:
http://www.hi.gov.cn
(chữ Hán giản thể)
Nguồn lấy dữ liệu dân số và GDP:
《中国统计年鉴—2005》/ Niên giám thống kê Trung Quốc 2005 ISBN 7503747382
Nguồn lấy dữ liệu dân tộc:
《2000年人口普查中国民族人口资料》/ Tư liệu nhân khẩu dân tộc dựa trên điều tra dân số năm 2000 của Trung Quốc ISBN 7105054255
Các nhóm ngôn ngữ của dân tộc Hải Nam, 1967 (Xem tất cả hình, bao gồm bảng ghi chú)
Các nhóm ngôn ngữ của dân tộc Hải Nam, 1967 (Xem tất cả hình, bao gồm bảng ghi chú)

Hải Nam (chữ Hán: 海南, pinyin: Hǎinán) là một tỉnh thuộc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nằm ở cực Nam đất nước này. Tỉnh gồm nhiều đảo, trong đó đảo lớn nhất được gọi là đảo Hải Nam (Hải Nam Đảo). Tỉnh lỵ là thành phố Hải Khẩu.

Đảo Hải Nam là đảo lớn nhất dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc (đảo Đài Loan lớn hơn nhưng nằm dưới quyền kiểm soát của Trung Hoa Dân Quốc), ngăn cách với bán đảo Lôi Châu (雷州半島) của tỉnh Quảng Đông bởi eo biển Quỳnh Châu (瓊州海峽). Về phía Tây của đảo Hải Nam là vịnh Bắc Bộ. Ngũ Chỉ Sơn (1.876 m) là ngọn núi cao nhất đảo.

Từ năm 1988, Hải Nam tách khỏi tỉnh Quảng Đông, trở thành tỉnh riêng, đồng thời là một đặc khu kinh tế của Trung Quốc.

Các đơn vị hành chính

Tỉnh Hải Nam có hệ thống hành chính hơi khác các tỉnh khác của Trung Quốc. Do dân cư tương đối thưa thớt nên tỉnh chỉ có hai đơn vị hành chính cấp địa khu, các đơn vị hành chính còn lại đều là cấp huyện nhưng do tỉnh trực tiếp quản lý không qua cấp địa khu (trừ 4 quận thuộc thành phố Hải Khẩu).

Các đơn vị hành chính:

Liêu Ninh

 

辽宁省
Liêu Ninh tỉnh
Tên tắt: 辽 Liêu (bính âm: Liáo)
Liêu Ninh được tô đậm trên bản đồ
Xuất xứ tên gọi 辽 Liêu - Liêu Dương
宁 Ninh - Ninh Nguyên (ngày nay là Hưng Thành)
Kiểu hành chính Tỉnh
Thủ phủ
thành phố lớn nhất
Thẩm Dương
Bí thư tỉnh ủy Liêu Ninh Lý Khắc Cường 李克强
Tỉnh trưởng Trương Văn Nhạc 张文岳
Diện tích 145.900 km² (thứ 21)
Dân số (2004)
 - Mật độ
42.170.000 (thứ 14)
289/km² (thứ 15)
GDP (2003)
 - trên đầu người
687,3 tỷ (85,27 tỷ USD) NDT (thứ 8)
16.300 (1727 USD) NDT (thứ 9)
HDI (2005) 0,808 (thứ 5) — cao
Các dân tộc chính (2000) Hán - 84%
Mãn Châu - 13%
Mông Cổ - 2%
Hồi - 0.6%
Triều Tiên - 0.6%
Tích Bá - 0.3%
Cấp địa khu 14
Cấp huyện 100
Cấp hương
(31 tháng 12, 2004)
1511
ISO 3166-2 CN-21
Website chính thức:
www.ln.gov.cn
(Tiếng Hoa giản thể)
Nguồn lấy dữ liệu dân số và GDP:
《中国统计年鉴—2005》/ Niên giám thống kê Trung Quốc 2005 ISBN 7503747382
Nguồn lấy dữ liệu dân tộc:
《2000年人口普查中国民族人口资料》/ Tư liệu nhân khẩu dân tộc dựa trên điều tra dân số năm 2000 của Trung Quốc ISBN 7105054255

(Giản thể: 辽宁, Phồn thể: 遼寧; Bính âm: Liáoníng) là một tỉnh đông bắc Trung Quốc. Tên viết tắt của Liêu Ninh là Liêu (辽; pinyin: liáo).

"Liêu" là một tên cổ xưa của khu vực này do Nhà Liêu (Đế quốc Khiết Đan) cai trị khu vực này giữ năm 907 và 1125. Ninh có nghĩa là "yên ổn". Tỉnh Liêu Ninh ngày nay được thành lập năm 1907 với tên gọi là tỉnh "Phụng Thiên" (奉天 ) và được đổi thành Liêu Ninh năm 1929. Dưới thời Mãn Châu Quốc bù nhìn của Nhật Bản, tỉnh này đã được biết đến dưới cái tên Phụng Thiên và tên Liêu Ninh được khôi phục năm 1945.

Liêu Ninh tọa lạc ở phía nam của miền đông bắc Trung Quốc. Liêu Ninh giáp Hoàng HảiVịnh Bột Hải về phía nam, Bắc Triều Tiên và phía đông nam, Cát Lâm về phía đông bắc, Hà Bắc về phía tây và Nội Mông về phía tây bắc.

Sông Áp Lục là biên giới tực nhiên giữa Bắc Triều Tiên và các tỉnh Cát Lâm và Liêu Ninh của Trung Quốc. Sông Áp Lục chảy vào Vịnh Triều Tiên giữa Đan Đông (Liêu Ninh) và Tân Nghĩa Châu (Bắc Triều Tiên).

Phân chia các đơn vị hành chính

Thành phố Đại Liên ở tỉnh Liêu Ninh
Thành phố Đại Liên ở tỉnh Liêu Ninh

Xem chi tiết ở bài Danh sách các đơn vị hành chính Liêu Ninh Liêu Ninh được chia ra làm 14 địa cấp thị:

Các địa cấp thị này lại được chia thành 100 đơn vị cấp huyện (17 thành phố cấp huyện), 19 huyện, 8 huyện tự trị và 56 quận và được chia thành 1511 cấp hương (613 trấn), 310 hương, 77 bản và 520 nhai biện xứ.

Các trường đại học và cao đẳng

Các trường thuộc quản lý của Bộ giáo dục Trung Quốc:

Các trường do các cơ quan quốc gia khác quản lý:

Các trường do chính quyền tỉnh quản lý:

Quảng Đông

 

广东省
Quảng Đông tỉnh
Tên tắt: 粤 (Việt) (bính âm: Yuè)
Quảng Đông được tô đậm trên bản đồ
Xuất xứ tên gọi 广 quảng - tên vùng
东 - đông
"Quảng phía đông"
Kiểu hành chính Tỉnh
Thủ phủ
thành phố lớn nhất
Quảng Châu
Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông Trương Đức Giang 张德江
Tỉnh trưởng Hoàng Hoa Hoa 黄华华
Diện tích 177.900 km² (thứ 15)
Dân số (2005)
 - Mật độ
83.040.000 (thứ 4)
618/km² (thứ 7)
GDP (2004)
 - trên đầu người
1,60 ngàn tỷ NDT (thứ nhất)
19.300 NDT (thứ 6)
HDI (2005) 0,807 (thứ 6) — cao
Các dân tộc chính (2000) Hán - 99%
Choang - 0.7%
Dao - 0.2%
Cấp địa khu 21
Cấp huyện 121
Cấp hương
(31 tháng 12, 2004)
1642
ISO 3166-2 CN-44
Website chính thức:
http://www.gd.gov.cn
(chữ Hán giản thể)
Nguồn lấy dữ liệu dân số và GDP:
《中国统计年鉴—2005》/ Niên giám thống kê Trung Quốc 2005 ISBN 7503747382
Nguồn lấy dữ liệu dân tộc:
《2000年人口普查中国民族人口资料》/ Tư liệu nhân khẩu dân tộc dựa trên điều tra dân số năm 2000 của Trung Quốc ISBN 7105054255

(chữ Hán phồn thể: 廣東; chữ Hán giản thể: 广东), là một tỉnh nằm ven biển phía nam Trung Quốc. Tỉnh lỵ là thành phố Quảng Châu. Quảng Đông là 1 trong những tỉnh giàu nhất Trung Quốc với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đứng đầu trong các đơn vị hành chính cấp tỉnh của Trung Quốc với GDP danh nghĩa là 165 tỷ USD năm 2003 và tăng lên 265 tỷ USD năm 2005 (tương đương Đan Mạch, gấp 5 lần GDP Việt Nam), do đó tỉnh này đã thu hút 30 triệu người nhập cư từ vùng khác của Trung Quốc. GDP của Quảng Đông chiếm 12% tổng GDP của Trung Quốc. Quảng ChâuThâm Quyến thuộc là 2 trong 4 tỉnh và thành phố quan trọng nhất Trung Quốc.

"Quảng" có nghĩa là rộng rãi và có liên quan tới khu vực thời Nhà Tấn. "Quảng Đông" có nghĩa là phía đông rộng rãi, Quảng Đông và Quảng Tây được gọi chung là "Lưỡng Quảng" (兩廣 liăng guăng). Tên viết tắt hiện nay của Quảng Đông là "Việt" 粵/粤 (Yue), liên quan đến "Bách Việt" (百越), một tên chung chỉ các dân tộc sống ở Quảng Đông và các khu vực xung quanh vào thời xưa.

 

Lịch sử

Quảng Đông có vị trí xa trung tâm nền văn minh Trung Hoa cổ đại ở đồng bằng phía bắc Trung Hoa. Thời đấy, đây là nơi sinh sống của các tộc người được gọi chung là "Bách Việt" (百越), các tộc người có lẽ là Tai-Kadai có liên quan đến dân tộc Choang ở tỉnh Quảng Tây.

Vùng đất này thuộc sự quản lý của chính quyền trung ương Trung Quốc bắt đầu từ thời nhà Tần - triều đại thống nhất đế chế Trung Hoa, đã mở rộng về phía nam và lập nên Quận Nam Hải (南海郡) tại Phiên Ngu (番禺), ngày nay gần Quảng Châu. Quận này đã từng là một nước Nam Việt độc lập giữa thời kỳ nhà Tần sụp đổ và Hán Vũ Đế lên cai trị Trung Hoa. Nhà Hán cai trị Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc Việt Nam (hay Đại Việt với tên gọi là Giao Châu (交州). Dưới thời Đông Ngô thuộc thời kỳ Tam Quốc, Quảng Đông được Đông Ngô lập thành một tỉnh - đó là tỉnh Quảng Châu (廣州) vào năm 226.

Trải qua thời gian dài, cơ cấu dân cư của khu vực này thay đổi dần dần, dẫn đến người Hán chiếm đa số, đặc biệt là sau nhiều đợt di cư lớn từ phương bắc trong các thời kỳ bất ổn chính trị do các bộ lạc du mục phía bắc Trung Hoa quấy nhiễu kể từ khi nhà Hán sụp đổ trở về sau. Ví dụ như cuộc binh biến do An Lộc Sơn lãnh đạo dẫn đến việc tăng 75% dân số của tỉnh Quảng Châu giữa những năm 740-750 và giai đoạn 800-810.[1]. Khi người Hán đến đây đông hơn, dân địa phương đã dần bị đồng hóa theo văn hóa Trung Hoa. [2], hoặc bị mai một hẳn văn hóa bản địa.

Cùng với Quảng Tây, Quảng Đông được tạo lập thành một bộ phận của Lĩnh Nam Đạo (嶺南道), năm 627 vào thời nhà Đường. Phần Quảng Đông trong Lĩnh Nam Đạo được đổi tên thành Quảng Nam Đông Đạo năm 971 trong thời nhà Tống - đây là sự bắt nguồn của cái tên Quảng Đông.

Khi quân Mông Cổ ở phương bắc xâm lược Trung Hoa vào thế kỷ thứ 13, triều đại Nam Tống rút lui về phía nam, cuối cùng dừng lại ở địa điểm của tỉnh Quảng Đông ngày nay. Hải chiến Nhai Sơn năm 1279 ở Quảng Đông đã kết thúc triều đại Nam Tống. Trong thời nhà Nguyên thuộc Mông Cổ, Quảng Đông là một phần của Giang Tây. Tên gọi Tỉnh Quảng Đông ngày nay được quy định vào giai đoạn đầu của nhà Minh.

Từ thế kỷ 16, Quảng Đông có những mối quan hệ thương mại với thế giới bên ngoài. Các nhà buôn châu Âu đã đến phía bắc thông qua eo biển MalaccaBiển Đông, đặc biệt là các nhà buôn Anh thông qua Quảng Đông. Macao nằm ở bờ nam của Quảng Đông là nơi định cư đầu tiên của người châu Âu ở Trung Quốc từ 1557. Việc buôn bán thuốc phiện thông qua Quảng Châu đã dẫn đến Chiến tranh nha phiến, mở ra một kỷ nguyên ngoại quốc xâm lược và can thiệp vào Trung Hoa. Ngoài Macao là nhượng địa cho Bồ Đào Nha, Hồng Kông thành nhượng địa cho Anh và Quảng Châu Loan cho người Pháp. Vào thế kỷ 19, Quảng Đông cũng là cảng chính cho làn sóng người lao động ra đi đến Đông Nam Á, miền Tây Hoa Kỳ và Canada.

Về mặt lịch sử, nhiều cộng đồng Hoa Kiều xuất thân từ Quảng Đông và đặc biệt là Đài Sơn và cùng với những người di cư từ Hồng Kông, tiếng Quảng Đôngtiếng Đài Sơn (phương ngữ ở Đài Sơn) được gần 10% dân số Trung Quốc sử dụng, có nhiều người Hoa Kiều chiếm tỷ lệ cao hơn tỷ lệ người nói ngôn ngữ này ở Trung Quốc.

Trong thời kỳ những năm 1850, Thái bình thiên quốc nổ ra ở Quảng Đông. Do là địa phương có tiếp xúc nhiều với phương Tây, Quảng Đông là trung tâm của các phong trào chống Mãn Châu và chống đế quốc. Tôn Trung Sơn cũng xuất phát từ Quảng Đông.

Vào đầu những năm 1920 thời Trung Hoa Dân Quốc, Quảng Đông là bàn đạp để Quốc Dân Đảng chuẩn bị Bắc Phạt trong một nỗ lực thống nhất tất cả các địa chủ về dưới quyền kiểm soát của chính quyền trung ương. Học viện Sĩ quan Lục quân Quốc Dân Đảng Trung Quốc đã được xây gần Quảng Châu để huấn luyện các sĩ quan chỉ huy.

Trong những năm gần đây, tỉnh này đã trải qua một thời kỳ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục do có các mối quan hệ kinh tế gần gũi với Hồng Kông giáp giới. Tỉnh này có GDP cao nhất trong các đơn vị cấp tỉnh Trung Quốc. Đảo Hải Nam trước đây là một bộ phận của tỉnh Quảng Đông nhưng được tách ra thành một tỉnh từ năm 1988.

Địa lý

Quảng Đông giáp Biển Đông về phía nam và có 4300 km bờ biển. Bản đảo Lôi Châu là vùng cực nam đất liền của tỉnh này. Ở trên Bán đảo Lôi Châu vẫn còn một số núi lửa đang ngừng hoạt động. Đồng bằng châu thổ Châu Giang là nơi tụ hợp của 3 sông thượng lưu là Đông Giang, Tây GiangBắc Giang. Vùng đồng bằng châu thổ này bao gồm hàng trăm hòn đảo nhỏ. Tỉnh Quảng Đông bị chia cắt về mặt địa lý khỏi phía bắc bởi một ít dãy núi có tên gọi chung là Nam Lĩnh (南岭). Đỉnh cao nhất của tỉnh này có độ cao 1600 m so với mực nước biển. Quảng Đông giáp Phúc Kiến về phía đông bắc, Giang TâyHồ Nam về phía bắc, Quảng Tây về phía tây và Hồng Kông, Macao về phía nam. Đảo Hải Nam nằm ngoài khơi tỉnh này gần Bán đảo Lôi Châu.

Các thành phố xung quanh Đồng bằng châu thổ Châu Giang có: Đông Hoản, Phật Sơn, Quảng Châu, Huệ Châu, Giang Môn, Thâm Quyến, Thuận Đức, Đài Sơn, Trung SanChu Hải. Các thành phố khác có: Triều Châu, Trừng Hải, Khai Bình, Nam Hải, Sán Đầu, Thiều Quan, Tân Hội, Đam GiangTriệu Khánh.

Quảng Đông có khí hậu cận nhiệt đới ẩm (phía nam nhiệt đới) với mùa đông ngắn, ôn hòa, khô ráo và mùa hè dài, ẩm và nóng. Nhiệt độ cao nhất trong ngày vào tháng Giêng và tháng 7 là 18 độ C và 33 độ C. Sương mù thì hiếm khi có ở vùng ven biển nhưng có xảy ra một vài ngày ở các vùng sâu trong đất liền.

Kinh tế

Bảng dưới đây cho thấy GDP của tỉnh Quảng Đông qua các năm official estimates với đơn vị tính là tỷ nhân dân tệ.

Năm GDP
1980 24.571
1985 55.305
1990 147.184
1995 538.172
2000 966.223
2005 2.170.128

Sau khi phe cộng sản nắm quyền ở Trung Quốc cho đến bắt đầu thời kỳ của Đặng Tiểu Bình năm 1978, Quảng Đông vẫn là một tỉnh nghèo túng dù có vẫn có nền kinh tế ngầm dịch vụ tồn tại. Các chính sách phát triển kinh tế đã khuyến khích sự phát triển công nghiệp ở các tỉnh sâu trong đất liền của Trung Quốc nhưng ít có mối quan hệ giao thông vận tải với Quảng Đông. Chính sách bế quan tỏa cảng kinh tế khiến cho Quảng Đông không thể hiện vai trò là cửa ngõ ra biển.

Chính sách mở cửa của Đặng Tiểu Bình đã thay đổi toàn diện nền kinh tế tỉnh này do có lợi thế là cửa ngõ ra biển, vị trí giáp Hồng Kông và có các mối quan hệ lịch sử với Hoa Kiều. Ngoài ra, cho đến những năm 1990, khi chế độ thuế khóa Trung Quốc được cải cách, tỉnh này đã thu lợi từ chính sách áp dụng mức thuế khá thấp ở Quảng Đông do vị thế lịch sử của tỉnh này là một tỉnh lạc hậu về kinh tế trước đó vào thời Mao Trạch Đông.

Mặc dù Thượng Hải được xem như bằng chứng về thành công kinh tế của Trung Quốc, sự bùng nổ kinh tế của Quảng Đông lại là một ví dụ cho việc Trung Quốc đã trở thành một nước hàng đầu về ngành chế tạo dựa trên nền tảng sử dụng nhiều lao động và là nơi thử nghiệm cụ thể để Trung Quốc thấy rõ được ưu và khuyết điểm của mô hình sử dụng nhiều nhân công này. Quảng Đông đã trải qua thời kỳ bùng nổ kinh tế từ những năm 1990 của thế kỷ 20 vào sự bùng nổ này đã lan qua các tỉnh lân cận và đã giúp kéo dân của những tỉnh này quay về. Nền kinh tế của Quảng Đông dựa trên nền tảng ngành chế tạo và xuất khẩu.

Quảng Đông ngày nay là một trong những tỉnh giàu nhất Trung Quốc, GDP cao nhất trong các đơn vị hành chính (trừ Hồng Kông]] và Macao) dù lương người lao động chỉ bắt đầu tăng trong thời gian gần đây do trước kia có những làn sóng lao động di cư từ các tỉnh láng giềng khác đến đây. GDP danh nghĩa là 267,6 tỷ USD, tăng 12,5% mỗi năm. Các ngành công nghiệp sơ cấp, thứ cấp và thứ 3 đạt giá trị 137,46 tỷ NDT, 1,08 ngàn tỷ NDT, và 957,94 tỷ NDT cho mỗi nhóm ngành. [3]. GDP đầu người đã đạt đến con số 23.616 tệ (US$2,912), tăng 84.7% so với năm 2000 [4]. Quảng Đông đóng góp 12% GDP của Trung Quốc [5]. Quảng Đông chiếm 4/6 đặc khu kinh tế của Trung Quốc: Quảng Châu, Thâm Quyến, Sán ĐầuChu Hải. Sự thịnh vượng của Quảng Đông tuy nhiên vẫn tập trung ở Đồng bằng châu thổ Châu Giang.

Cơ cấu dân số

Dù con số thống kê chính thức thường cho rằng Quảng Đông xếp thứ 4 Trung Quốc về dân số với 80 triệu dân, các thông tin được công bố gần đây [6] cho rằng, có khoảng 30 triệu người nhập cư sống ở Quảng Đông ít nhất là 6 tháng mỗi năm, do đó dân số tỉnh này phải là 110 triệu người, là tỉnh đông dân nhất Trung Quốc. Làn sóng di cư của dân từ tỉnh khác đến tỉnh này, thường được gọi là "dân trôi nổi" là do sự phát triển kinh tế nhanh của Quảng Đông do đó cần nhiều lao động. Quảng Đông chính thức trở thành tỉnh đông dân nhất Trung Quốc từ tháng 1/2005. [7] [8]

Do vị trí địa lý giáp Thái Bình Dương, Quảng Đông cũng là quê cha đất tổ của một số lượng lớn Hoa Kiều. Phần lớn những người phu làm đường sắt ở Canada và miền tây Hoa Kỳ là người Quảng Đông. Việc di cư từ tỉnh này đến các nước khác trong những năm gần đây đã giảm xuống cùng với sự thịnh vượng của Quảng Đông nhưng tỉnh này vẫn là một nơi có số lượng lớn người di cư qua Bắc Mỹ. Đa số dân Quảng Đông là người Hán. Có một thiểu số người Dao ở phía bắc. Các dân tộc thiểu số khác có: H'mông, Choang.

Do mật độ dân số cao và tập quán nuôi chung súc vật nên Quảng Đông là nơi khởi phát bệnh SARScúm gà.

Chính trị

Trong những năm 1980, chính quyền tỉnh Quảng Đông nổi tiếng vì dám chống lại các chỉ đạo của chính quyền trung ương, đặc biệt là các vấn đề kinh tế. Đồng thời, tình hình kinh tế của Quảng Đông đã khiến tỉnh này khác lặng lẽ trong các hoạt động chính trị và kinh tế. Dù phương Tây cho rằng, sự tăng trưởng kinh tế của Quảng Đông trong thời gian gần đây và sự bất đồng ngôn ngữ sẽ dẫn đến ly khai nhưng hầu như không có trường hợp ly khai nào cũng như sự ủng hộ ly khai đáng kể nào ở tỉnh này.

Quan hệ với Hồng Kông và Macao

Mặc dù cả Hồng Kông và Macau về mặt lịch sử là một phần của Quảng Đông trước khi trở thành thuộc địa của Anh và bồ Đào Nha, hai thành phố này lại trở thành đặc khu hành chính - ngang cấp tỉnh khi chủ quyền được trao trả cho Trung Quốc. Đạo luật Cơ bản của cả hai đặc khu hành chính nghiêm cấm chính quyền tỉnh can thiệp vào chính trị. Các vấn đề khác như chính sách biên giới và quyền mặt nước có quan hệ đến Hồng Kông và Macao và Trung Hoa đại lục được thương thảo thông qua Đặc khu và tỉnh Quảng Đông. Do các đặc khu là các đơn vị hành chính của Trung Quốc, không bao giờ có xảy ra chuyện chính phủ trung ương lại thương thảo với chính quyền đặc khu. Do đó, chính quyền trung ương cho phép Quảng Đông thực hiện các vấn đề này.

Truyền thông

Quảng Đông và vùng Quảng Đông mở rộng có nhiều đài phát thanh và truyền hình. Có một đài phát thanh quốc tế phát tin tức về khu vực này đi khắp thế giới thông qua Hệ thống radio thế giới.

Văn hoá

Quảng Đông là một tỉnh đa văn hoá. Vùng trung tâm của tỉnh có dân số nói tiếng Quảng Đông cùng với tiếng Quan Thoại. Khoảng 60 triệu người nói tiếng Quảng Đông và nhiều thứ ngôn ngữ địa phương khác. Quảng Đông cũng nổi tiếng với ẩm thực Quảng Đông (粤菜, "Việt thái") và nhạc kịch Quảng Đông (粵劇, "Việt kịch"). Dân Triều Châu nói tiếng Triều Châungười Khách Gia lại sử dụng tiếng Khách Gia và có ẩm thực Khách Gia.

Giáo dục

Các trường cao đẳng và đại học

Thể thao

Tại Quảng Đông có các đội thể thao lớn như:

Du lịch

Quảng Đông có nhiều thắng cảnh tự nhiên và nhân tạo như núi Đan Hà, di chỉ cung thự nước Nam Việt, mộ Văn Vương Nam Việt...

Các đơn vị hành chính

Xem chi tiết tại Danh sách các đơn vị hành chính tỉnh Quảng Đông .

Tỉnh Quảng Đông được chia thành 21 thành phố trực thuộc tỉnh (địa cấp thị), trong đó có 2 thành phố cấp phó tỉnh (副省级城市, phó tỉnh cấp thành thị). Chữ ghi trong ngoặc, cụm chữ đầu là bính âm không thanh điệu, cụm chữ sau là phiên tiếng Quảng Đông):

Các địa cấp thị trên quản lý 49 quận, 30 thị xã (huyện cấp thị), 42 huyện và và 3 huyện tự trị.

Vân Nam

 

云南省
Vân Nam tỉnh
Tên tắt: 滇 hoặc 云 (bính âm: Điền hoặc Vân)
Vân Nam được tô đậm trên bản đồ
Xuất xứ tên gọi 云 vân - mây
南 - nam
"phía nam các ngọn núi phủ mây"
Kiểu hành chính Tỉnh
Thủ phủ
thành phố lớn nhất
Côn Minh
Bí thư tỉnh ủy Vân Nam Bạch Ân Bồi 白恩培
Tỉnh trưởng Từ Vinh Khải 徐荣凯
Diện tích 394.100 km² (thứ 8)
Dân số (2004)
 - Mật độ
44.150.000 (thứ 12)
112/km² (thứ 24)
GDP (2004)
 - trên đầu người
295,9 tỉ NDT (thứ 19)
6700 NDT (thứ 29)
HDI (2005) 0,657 (thứ 29) — trung bình
Các dân tộc chính (2000) Hán - 67%
Di - 11%
Bạch - 3.6%
Hà Nhì - 3.4%
Choang - 2.7%
Thái - 2.7%
Miêu - 2.5%
Hồi - 1.5%
Cấp địa khu 16
Cấp huyện 129
Cấp hương
(31 tháng 12, 2004)
1565
ISO 3166-2 CN-53
Website chính thức:
http://www.yn.gov.cn (chữ Hán giản thể)
Nguồn lấy dữ liệu dân số và GDP:
《中国统计年鉴—2005》/ Niên giám thống kê Trung Quốc 2005 ISBN 7503747382
Nguồn lấy dữ liệu dân tộc:
《2000年人口普查中国民族人口资料》/ Tư liệu nhân khẩu dân tộc dựa trên điều tra dân số năm 2000 của Trung Quốc ISBN 7105054255

Vân Nam (chữ Hán phồn thể: 雲南; chữ Hán giản thể: 云南; pinyin: Yunnan) là một tỉnh ở phía tây nam của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, giáp biên giới với Việt Nam. Vân Nam có dân số 44.150.000 người, diện tích 394.100 km² (rộng hơn diện tích Việt Nam). Thủ phủ của tỉnh này là thành phố Côn Minh. Vân Nam là nơi bắt nguồn của sông Hồngsông Đà, sông Mê Kông cũng chảy qua Vân Nam.

 

Các đơn vị hành chính

Vân Nam được chia thành 16 đơn vị hành chính cấp địa khu, gồm 8 thành phố (địa cấp thị) và 8 châu tự trị:

  • Thành phố Côn Minh (昆明) với 5 quận (khu), 1 thị xã (An Ninh), 5 huyện và 3 huyện tự trị.
  • Thành phố Khúc Tĩnh (曲靖) với 1 quận, 1 thị xã (Tuyên Uy) và 7 huyện.
  • Thành phố Ngọc Khê (玉溪) với 1 quận, 5 huyện và 3 huyện tự trị.
  • Thành phố Bảo Sơn (保山) với 1 quận và 4 huyện.
  • Thành phố Chiêu Thông (昭通) với 1 quận và 10 huyện.
  • Thành phố Lệ Giang (丽江) với 1 quận, 2 huyện và 2 huyện tự trị.
  • Thành phố Tư Mao (思茅) với 1 quận và 6 huyện tự trị.
  • Thành phố Lâm Thương (临沧) với 1 quận, 4 huyện và 3 huyện tự trị.
  • Châu tự trị dân tộc Thái-Cảnh Pha Đức Hồng (德宏傣族景颇族自治州) với 2 thị xã (Lộ Tây, Thụy Lệ) và 3 huyện.
  • Châu tự trị dân tộc Lật Túc Nộ Giang (怒江傈僳族自治州) với 2 huyện và 2 huyện tự trị.
  • Châu tự trị dân tộc Tạng Địch Khánh (迪庆藏族自治州) với 2 huyện và 1 huyện tự trị.
  • Châu tự trị dân tộc Bạch Đại Lý (大理白族自治州) với 1 thị xã Đại Lý, 8 huyện và 3 huyện tự trị.
  • Châu tự trị dân tộc Di Sở Hùng (楚雄彝族自治州) với 1 thị xã (Sở Hùng) và 9 huyện tự trị.
  • Châu tự trị dân tộc Cáp Nê, dân tộc Di Hồng Hà (红河哈尼族彝族自治州) với 2 thị xã (Cá Cựu, Khai Viễn), 8 huyện và 3 huyện tự trị.
  • Châu tự trị dân tộc Choang-Miêu Văn Sơn (文山壮族苗族自治州) với 8 huyện.
  • Châu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp (西双版纳傣族自治州) với 1 thị xã (Cảnh Hồng) và 2 huyện.

Tổng cộng có 129 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 9 thị xã, 79 huyện, 29 huyện tự trị và 12 quận.

Biểu tượng

Camellia reticulata, một loài cây trà có nguồn gốc từ tỉnh Vân Nam, là biểu tượng của tỉnh này.

Lịch sử

"Người Nguyên Mưu" (元谋人), hóa thạch của người đứng thẳng (Homo erectus) được những người xây dựng đường sắt khai quật trong thập niên 1960, đã được xác định là hóa thạch người cổ nhất đã biết đến ở Trung Quốc. Vào thời kỳ đồ đá mới, ở đây đã có sự định cư của con người trong khu vực hồ Điền Trì (滇池). Những người nguyên thủy này sử dụng các công cụ bằng đá và đã xây dựng được các công trình đơn giản bằng gỗ.

Vào khoảng thế kỷ 3 TCN, khu vực trung tâm của Vân Nam, xung quanh Côn Minh ngày nay đã được biết đến như là Điền. Một viên tướng nước Sở là Trang Giao hay Trang Kiệu (庄跤/庄峤) đã từ thượng nguồn sông Dương Tử tiến vào khu vực này, lập ra nước Điền và tự xưng là "vua nước Điền". Ông và những người kế nghiệp ông đã mang tới Vân Nam ảnh hưởng của người Hán, sự khởi đầu của một lịch sử lâu đời các cuộc di cư và sự mở rộng ảnh hưởng văn hóa.

Năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc và mở rộng quyền lực của mình xuống phía nam. Các châu và huyện đã được thiết lập tại đông bắc Vân Nam. Đường giao thông đang có tại Tứ Xuyên đã được mở rộng về phía nam tới gần Khúc Tĩnh (曲靖) ngày nay, ở miền đông Vân Nam - được gọi là "Ngũ xích đạo" (đường 5 thước). Năm 109 TCN, Hán Vũ Đế giao quyền cho tướng Quách Xương (郭昌) đến Vân Nam để thiết lập quận Ích Châu với 24 huyện trực thuộc. Nơi đặt trụ sở của quận này là huyện Điền Trì (ngày nay là Tấn Ninh 晋宁). Một huyện khác được gọi là "Vân Nam", có lẽ là lần sử dụng đầu tiên của tên gọi này. Để mở rộng quan hệ thương mại mới hình thành với Miến Điện và Ấn Độ, Hán Vũ Đế còn giao cho Đường Mông (唐蒙) nhiệm vụ bảo trì và mở rộng Ngũ xích đạo, đổi tên nó thành "Tây nam Di đạo" (西南夷道). Vào thời gian đó, kỹ thuật canh tác trong nông nghiệp ở Vân Nam đã được cải thiện rõ rệt. Người dân địa phương sử dụng các công cụ và cày bừa bằng đồng thau cũng như chăn thả nhiều loại gia súc, như trâu, bò, ngựa, cừu, dê, lợn và chó.

Các nhà nhân loại học đã xác định là những người này có quan hệ họ hàng gần với những người mà ngày nay gọi là người Thái. Họ sinh sống theo bộ tộc, đôi khi được những người Hán bị lưu đày đứng đầu.

Trong thời kỳ Tam Quốc, lãnh thổ của Vân Nam ngày nay, Kiềm Tây (黔西) và miền nam Tứ Xuyên được gọi chung là "Nam Trung" (南中). Sự tan rã của quyền lực trung ương tại Trung Quốc đã làm gia tăng tính tự trị của Vân Nam cũng như tăng thêm quyền lực cho các bộ tộc địa phương. Năm 225, một chính trị gia nổi tiểng là Gia Cát Lượng (诸葛亮) đã dẫn quân đến Vân Nam để dẹp yên các bộ tộc này. Bảy lần bắt và tha Mạnh Hoạch (孟获), một thủ lĩnh địa phương, đã được huyền thoại hóa trong văn hóa dân gian Trung Quốc.

Vào thế kỷ 4, miền bắc Trung Quốc chủ yếu bị những bộ tộc từ Trung Á tràn sang. Vào thập niên 320, thị tộc Thoán (爨) đã di cư tới Vân Nam. Thoán Sâm (爨琛) tự xưng làm vua và duy trì quyền lực tại Điền Trì (khi đó gọi là Côn Xuyên 昆川). Từ đó trở đi, thị tộc này đã cai quản Vân Nam trên 400 năm. Năm 738, Bì La Các (皮罗阁), thủ lĩnh bộ lạc Mông Xá, đã thành lập vương quốc Nam Chiếu (南诏) tại Vân Nam với kinh đô tại thành Thái Hòa (nay là Đại Lý) lập ra năm 739. Ông được nhà Đường công nhận là "Vân Nam vương". Từ Đại Lý, mười ba đời vua Nam Chiếu đã cai trị trên 2 thế kỷ và đóng một vai trò quan trọng trong mối quan hệ luôn biến đổi giữa Trung Quốc và Tây Tạng. Năm 902, quyền thần của Nam Chiếu là Trịnh Mãi chiếm đoạt quyền hành, đổi tên nước thành Đại Trường Hòa. Năm 929, Triệu Thiện Chính diệt Đại Trường Hòa, lập ra nước Đại Thiên Hưng. Năm 930, tiết độ sứ Đông Xuyên là Dương Càn Hưng diệt Đại Thiên Hưng, đổi tên nước thành Đại Nghĩa Ninh. Năm 937, thủ lĩnh bộ tộc người Bạch là Đoàn Tư Bình (段思平) đã diệt Đại Nghĩa Ninh và thành lập Vương quốc Đại Lý, đóng đô tại Đại Lý. Vương quốc này khi đó bao gồm lãnh thổ ngày nay thuộc các tỉnh Vân Nam, Quý Châu, tây nam Tứ Xuyên, bắc Miến Điện, bắc Lào và một số khu vực tại tây bắc Việt Nam. Năm 1253, vương quốc Đại Lý bị người Mông Cổ và quân đội của đại hãn Mông Kha tấn công. Năm 1276, Hốt Tất Liệt cho thành lập tỉnh Vân Nam. Năm 1381, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương phái các tướng là Phó Hữu ĐứcMộc Anh đem quân chiếm Vân Nam, diệt Lương vương của triều Nguyên. Cuối thời nhà Minh, hoàng đế Nam Minh (Quế vương) là Chu Do Lang (niên hiệu Vĩnh Lịch, 1646-1662) đã chạy tới Vân Nam. Năm 1659, nhà Thanh sai Bình Tây vương Ngô Tam Quế tấn công Vân Nam. Năm 1662, Ngô Tam Quế tấn công sang Miến Điện, bắt được Vĩnh Lịch bắt treo cổ chết. Giai đoạn từ 1856 tới 1873, người Hổi nổi dậy dưới sự chỉ huy của Đỗ Văn Tú. Sau khi thất bại thì số lượng người Hồi đã giảm mạnh. Trong thời kỳ này người Anh chiếm đóng Miến Điện còn người Pháp chiếm đóng Việt Nam nên cả hai đều có ảnh hưởng tới Vân Nam.

Năm 1910, người Pháp cho xây dựng đường sắt Điền Việt nối Côn Minh với Hải Phòng, đoạn trong Vân Nam gọi là Côn Hà thiết lộ (đường sắt Côn Hà).

Ngày 30 tháng 10 năm 1911, nhân dịp tết trùng dương, Thái Ngạc và Đường Kế Nghiêu nổi dậy thoát ly khỏi nhà Thanh. Ngày 25 tháng 12 năm 1915, hai ông này phát động phong trào phản đối Viên Thế Khải. Trong thời kỳ Trung Hoa dân quốc, tại Vân Nam hình thành một cục diện cát cứ, từ 1928 tới 1945 do Đường Kế Nghiêu và Long Vân thống lĩnh. Năm 1942, trên 10 vạn quân Trung Quốc tấn công sang Miến Điện, phối hợp cùng quân Anh chống lại quân đội Nhật Bản. Giai đoạn từ 1938 tới 1946, các trường đại học như đại học Bắc Kinh, đại học Thanh Hoa, đại học Nam Khai đã hợp nhất tại Côn Minh để lập ra Đại học Quốc gia Liên hợp Tây Nam.

Năm 1894, George Ernest Morrison, một phóng viên người Úc làm việc cho The Times, đã du hành từ Bắc Kinh tới Miến Điện, khi đó bị người Anh chiếm đóng, thông qua Vân Nam. Cuốn sách của ông An Australian in China (Người Úc tại Trung Quốc) đã miêu tả chi tiết những thử thách ông đã trải qua.

Từ năm 1916 đến năm 1917, Roy Chapman AndrewsYvette Borup Andrews đã dẫn đầu đoàn thám hiểm động vật châu Á thuộc Viện bảo tàng tự nhiên Hoa Kỳ đi suốt phần lớn khu vực miền tây và miền nam Vân Nam, cũng như các tỉnh khác của Trung Quốc. Cuốn sách Camps and Trails in China đã ghi chép lại những thử thách của họ.

Địa lý

Các dãy núi tuyết ở Địch Khánh, tây bắc Vân Nam
Các dãy núi tuyết ở Địch Khánh, tây bắc Vân Nam
Hồ Nhị Hải (洱海湖), Đại Lý, Vân Nam
Hồ Nhị Hải (洱海湖), Đại Lý, Vân Nam

Vân Nam là tỉnh cực tây nam của Trung Quốc, với đường Bắc chí tuyến chạy ngang qua phần phía nam của tỉnh. Tỉnh này có diện tích khoảng 394.000 km², chiếm 4,1% tổng diện tích Trung Quốc. Tỉnh này có ranh giới với Khu tự trị người Choang Quảng Tây và tỉnh Quý Châu ở phía đông, tỉnh Tứ Xuyên ở phía bắc, Khu tự trị Tây Tạng ở phía tây bắc. Tỉnh này cũng có biên giới dài 4.060 km với Myanma ở phía tây, Lào ở phía nam, Việt Nam ở phía đông nam.

Xem thêm: Đá phiến sét Mạo Thiên Sơn

Ranh giới-Biên giới

Các tỉnh, khu tự trị có ranh giới là Khu tụ trị Tây Tạng, Tứ Xuyên, Quý ChâuQuảng Tây. Các quốc gia có biên giới với tỉnh này là Việt Nam (các tỉnh Việt Nam tiếp giáp gồm Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang; các đơn vị hành chính của Vân Nam tiếp giáp với Việt Nam gồm châu Hồng Hà, Văn Sơn, địa cấp thị Phổ Nhị; cửa khẩu chính qua biên giới theo đường bộ và đường sắt là tại Hà Khẩu - Lào Cai), Lào (tại Boten) và Myanma (với cửa khẩu biên giới chính tại Thụy Lệ, đây cũng là của khẩu biên giới bộ duy nhất được phép đi lại đối với những người không có quốc tịch Trung Quốc hay Myama).

Cao độ

Điểm cao nhất ở phía bắc là đỉnh Kawagebo tại huyện Đức Khâm trên cao nguyên Địch Khánh, nó cao khoảng 6.740 m; và điểm thấp nhất là thung lũng Hồng Hà tại huyện Hà Khẩu, với cao độ 76,4 m.

Sông ngòi

Tỉnh này được 6 hệ thống sông lớn chính tưới tiêu:

  • Dương Tử (长江; Trường Giang), tại đây được biết dưới tên gọi Kim Sa Giang (sông cát vàng), tưới tiêu cho phần phía bắc của tỉnh.
  • Châu Giang, với thượng nguồn của nó gần Khúc Tĩnh, tưới tiêu cho khu vực miền đông.
  • Mê Kông (澜沧江; Lan Thương Giang), chảy từ Tây Tạng tới miền nam Việt Nam để đổ ra biển Đông, tạo thành biên giới tự nhiên giữa Lào và Myanma, giữa Lào và Thái Lan, qua Campuchia để tới Việt Nam.
  • Hồng Hà (红河/元江; Hồng Hà/Nguyên Giang) có thượng nguồn tại các dãy núi ở phía nam Đại Lý và đổ ra biển Đông sau khi chảy qua Hà Nội, Việt Nam.
  • Nộ Giang/Salween (怒江; nù jiāng), chảy ra vịnh Martabanbiển Andaman sau khi chảy qua Myanma.
  • Sông Irrawaddy có một số sông nhánh nhỏ ở miền viễn tây Vân Nam, cũng như Độc Long Giang và các sông trong châu tự trị Đức Hoành.

Các nguồn lực tự nhiên

Vân Nam giàu các nguồn lực tự nhiên. Tỉnh này được biết đến như là vương quốc của thực vật, động vật và các kim loại màu cũng như các loài cây thuốc.

Tỉnh này không những có các loài thực vật nhiệt đới, cận nhiệt đới, ôn đới, hàn đới nhiều hơn so với các tỉnh khác tại Trung Quốc, mà còn có nhiều loài thực vật cổ, cũng như các loài được đưa từ nước ngoài vào. Trong số khoảng 30.000 loài thực vật tại Trung Quốc thì có thể tìm thấy khoảng 18.000 loài tại Vân Nam. Vân Nam cũng là nơi có nhiều loài động vật quí hiếm trên thế giới sinh sống, nổi bật nhất là hổ, voibò tót khổng lồ.

Trên 150 loại khoáng sản đã được phát hiện tại Vân Nam. Giá trị tiềm năng của các loại khoảng sản này tại Vân Nam vào khoảng 3 nghìn tỷ nhân dân tệ ( khoảng 350 tỷ USD), 40% trong số đó là từ các loại khoảng sản cung cấp nhiên liệu, 7,3% từ khoáng sản kim loại và 52,7% từ các khoáng sản phi-kim loại.

Vân Nam đã được xác nhận là có trầm tích của 86 loại khoáng sản tại 2.700 khu vực. Khoảng 13% trong số các loại khoáng sản trầm tích này có trữ lượng lớn nhất trong số các mỏ khoáng sản tại Trung Quốc, và 2/3 các trầm tích có trữ lượng lớn nhất tại lưu vực sông Dương Tử và miền nam Trung Quốc. Vân Nam đứng đầu Trung Quốc về các loại khoáng sản chứa kẽm, chì, thiếc, cadmi, indi, tali và crocidolit.

Vân Nam có nhiều mưa và sông hồ. Tổng lưu lượng nước hàng năm chảy trong tỉnh này là khoảng 200 km³, ba lần lớn hơn lưu lượng của sông Hoàng Hà. Các sông chảy vào tỉnh này bổ sung thêm 160 km³, có nghĩa là có trên 10.000 m³ khối nước cho mỗi người dân trong tỉnh trong một năm. Con số này cao gấp 4 lần so với trung bình toàn Trung Quốc. Lượng nước lớn này tạo điều kiện cho việc phát triển thủy điện.

Vân Nam còn hấp dẫn với nhiều địa điểm du lịch, bao gồm nhiều vùng phong cảnh đẹp, các tập quán dân tộc đa dạng và một khí hậu dễ chịu.

Dân cư

Tổng dân số: 43,33 triệu (năm 2002)

Tỷ lệ tăng dân số: 1,06%

Tuổi thọ (trung bình): 65,1 năm (nam) và 67,7 năm (nữ) (dữ liệu năm 1995)

Dân tộc

Vân Nam đáng chú ý vì sự đa dạng sắc tộc cao. Tỉnh này có nhiều dân tộc hơn tất cả các tỉnh và khu tự trị khác của Trung Quốc. Trong số 56 dân tộc được công nhận tại Trung Quốc, người ta thấy tại Vân Nam là 25. Khoảng 38,07% dân số trong tỉnh này là các nhóm sắc tộc thiểu số như người Di, Bạch, Cáp Nê (Hà Nhì), Tráng (Choang), Thái, Miêu (H'Mông), Lật Túc, Hồi, Lạp Hỗ (La Hủ), Ngõa (Va), Nạp Tây, Dao, Tạng, Cảnh Pha, Bố Lãng, Phổ Mễ, Nộ, A Xương, Cơ Nặc, Mông Cổ, Độc Long, Mãn, Thủy và Bố Y. Một vài dân tộc khác cũng có đại diện, nhưng hoặc là họ không sống trong các khu dân cư đông đúc hoặc số lượng không đạt tới ngưỡng quy định là 5.000 người để có thể được công nhận có địa vị một cách chính thức là tồn tại trong tỉnh. Một số nhóm sắc tộc, chẳng hạn người Ma Toa, đã được công nhận chính thức như là một phần của người Nạp Tây, trong quá khứ đã từng yêu cầu có địa vị chính thức như là một dân tộc thiểu số, và hiện nay được công nhận là dân tộc Ma Toa.

Các nhóm sắc tộc phân bổ rộng khắp trong tỉnh. Khoảng 25 các dân tộc thiểu số sống trong các khu dân cư đông đúc, mỗi cộng đồng có số dân trên 5.000 người. Mười dân tộc thiểu số sống tại khu vực biên giới và thung lũng các sông, bao gồm người Hồi, Mãn (người Mãn, dấu vết còn lại của thời kỳ chính quyền nhà Thanh, không sống trong các khu dân cư đông đúc và trong nhiều khía cạnh thì không khác gì người Hán), Bạch, Nạp Tây, Mông Cổ, Tráng, Thái, A Xương, Bố Y và Thủy, với tổng dân số khoảng 4,5 triệu; những người sống trong các khu vực núi thấp là người Hà Nhì, Dao, Lạp Hỗ (La Hủ), Va, Cảnh Pha, Bố Lãng và Cơ Nặc, với tổng dân số khoảng 5 triệu; còn những người sống trong các khu vực núi cao là người Miêu, Lật Túc, Tạng, Phổ Mễ và Độc Long, với tổng dân số khoảng 4 triệu.

Câu truyện thường được nhắc lại kể về chuyện ba anh em khi sinh ra đã nói các thứ tiếng khác nhau: Tạng, Nạp TâyBạch. Mỗi người sống trong các khu vực khác nhau của Vân Nam và Tây Tạng, tương ứng với các vùng cao, vùng trung và vùng thấp.

Ngôn ngữ

Các phương ngữ chủ yếu trong tiếng Trung được nói tại Vân Nam thuộc về nhánh tây nam của nhóm Quan Thoại, và vì thế là tương tự như các phương ngữ láng giềng ở các tỉnh Tứ XuyênQuý Châu. Các đặc trưng đáng chú ý trong nhiều phương ngữ Vân Nam là việc mất đi một phần hay toàn bộ khác biệt giữa /n//ŋ/, cũng như không có /y/.

Sự đa dạng sắc tộc của Vân Nam được phản ánh trong sự đa dạng ngôn ngữ của nó. Các thứ tiếng được nói tại Vân Nam bao gồm nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến chẳng hạn như Bạch, Di, Tạng, Hà Nhì, Cảnh Pha, Lisu, Lạp Hỗ, Nạp Tây; Thái hay Tráng, Bố Y, Đồng, Thủy, Thái LựThái Nüa cũng như nhóm ngôn ngữ Mông-Miến.

Cụ thể là tiếng Nạp Tây sử dụng hệ thống chữ viết Đông Ba, là hệ thống chữ viết dùng biểu tượng (hình ý văn tự) duy nhất hiện nay trên thế giới. Văn tự Đông Ba đã được các thầy cúng Đông Ba sử dụng là chủ yếu với các chỉ dẫn về nghi thức hành lễ của họ. Ngày nay văn tự Đông Ba chủ yếu là để đáp ứng sự tò mò của khách du lịch. Học giả nổi tiếng nhất về văn hóa Đông Ba có lẽ là Joseph Rock.

Giáo dục

Vào cuối năm 1998, trong số dân số của tỉnh thì 419.800 người có trình độ từ cao đẳng trở lên, 2,11 triệu người đã tốt nghiệp phổ thông trung học, 8,3 triệu người tốt nghiệp trung học cơ sở, 18,25 triệu người đã tốt nghiệp tiểu học và 8,25 triệu người trên 15 tuổi hoặc là mù chữ hoặc một phần biết đọc, biết viết.

Đại học và cao đẳng

  • Đại học Khoa học Công nghệ Côn Minh
  • Đại học Vân Nam
  • Đại học Kinh tế Tài chính Vân Nam
  • Đại học Nông nghiệp Vân Nam
  • Đại học dân tộc Vân Nam
  • Đại học Côn Minh
  • Học viện Lâm nghiệp Tây Nam
  • Học viện Y học Côn Minh
  • Học viện Đông y Vân Nam
  • Học viện Cảnh quan Vân Nam
  • Đại học Sư phạm Vân Nam
  • Đại học Hồng Hà

Kinh tế

Một trong những tuyến đường trồng nhiều cọ tại Cảnh Hồng
Một trong những tuyến đường trồng nhiều cọ tại Cảnh Hồng
Cảnh mua bán tại Lệ Giang
Cảnh mua bán tại Lệ Giang

Vân Nam là một tỉnh tương đối chậm phát triển của Trung Quốc với tỷ lệ dân số lâm vào cảnh nghèo khổ cao hơn các tỉnh khác. Năm 1994, khoảng 7 triệu người sống dưới mức nghèo khổ với thu nhập bình quân hàng năm thấp hơn 300 nhân dân tệ trên đầu người. Họ được phân bổ trong 73 huyện của tỉnh, chủ yếu sống nhờ nguồn hỗ trợ tài chính của chính quyền trung ương. Với số tiền trợ cấp 3,15 tỷ nhân dân tệ (NDT) năm 2002, dân số nông thôn nghèo trong tỉnh đã giảm từ 4,05 triệu năm 2000 xuống 2,86 triệu. Kế hoạch xóa đói giảm nghèo bao gồm 5 dự án lớn với mục tiêu nâng cấp và hoàn thiện cơ sở hạ tầng. Các kế hoạch này bao gồm chương trình cải tạo đất, bảo tồn nước, cung cấp điện năng, đường xá và xây dựng "vành đai xanh". Cho đến khi các dự án này được hoàn thành thì Vân Nam sẽ giải quyết được vấn đề thiếu ngũ cốc, nước, điện, đường xá và cải thiện các điều kiện sinh thái.

Bốn ngành kinh tế cột trụ của Vân Nam là: sản xuất thuốc lá, các chế phẩm sinh học, khai thác mỏ và du lịch. Vân Nam có quan hệ thương mại với trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Vân Nam cũng thành lập khu thương mại biên giới Muse (nằm tại Thụy Lệ) dọc theo ranh giới của tỉnh này với Myanma[1]. Vân Nam xuất khẩu chủ yếu là thuốc lá, máy móc và thiết bị điện, các sản phẩm hóa học và nông nghjiệp, cũng như các kim loại màu. Năm 2002, kim ngạch thương mại song phương (nhập và xuất khẩu) đạt 2,23 tỷ đô la Mỹ. Năm 2002, tỉnh này đã ký các hợp đồng FDI với số vốn 333 triệu đô la Mỹ, trong đó 112 triệu đô la Mỹ đã được đầu tư trên thực tế trong cùng năm. Tỷ lệ thất nghiệp tại Vân Nam là 4% (năm 2002).

GDP danh định năm 2004 là 295,9 tỷ nhân dân tệ (36,71 tỷ đô la Mỹ), và tốc độ tăng trưởng hàng năm là 8,1%. GDP trên đầu người là 5.630 NDT (680 USD). Tỷ lệ trong GDP của các ngành công nghiệp sơ cấp (nông-lâm-ngư nghiệp và khai khoáng), thứ cấp (sản xuất công nghiệp và xây dựng) và tam cấp (dịch vụ) lần lượt là 21,1%; 42.8%; 36,1%.

Vận tải

Đường sắt

Vân Nam được nối bằng đường sắt lần đầu tiên không phải là với phần còn lại của Trung Quốc mà là với cảng Hải Phòng bằng đường sắt khổ hẹp (1,1 m) do người Pháp xây dựng và hoàn thành năm 1910. Phải 50 năm sau thì tỉnh này mới được nối với phần còn lại của Trung Quốc bằng đường sắt sau khi tuyến đường sắt Thành Đô-Côn Minh hoàn thành. Sau đó, tuyến đường sắt nối Côn Minh với Quý Dương cũng được đưa vào khai thác. Hai tuyến đường sắt mới được đưa vào sử dụng gần đây: tuyến đường phía nam nối tới Nam Ninh và tuyến đường đông bắc nối tới Tứ Xuyên.

Vào thời điểm 2006, sự kéo dài của tuyến đường sắt hiện nay cũng liên kết Côn Minh với Đại Lý, với đoạn kéo dài tới Lệ Giang cũng gần hoàn thành. Người ta cũng có kế hoạch mở rộng tuyến đường sắt cổ nhất trong tỉnh tới Việt Nam, trong khi một kế hoạch mới và rất nhiều tham vọng để liên kết Đại Lý với Thụy Lệ cũng đã được thông báo trong năm 2006.

Đường bộ

Việc xây dựng đường bộ tại Vân Nam vẫn tiếp tục không suy giảm: trong những năm qua tỉnh này đã xây dựng được thêm nhiều tuyến đường mới hơn bất kỳ tỉnh nào của Trung Quốc. Hiện nay, tuyến đường cao tốc nối Côn Minh, qua Đại Lý tới Bảo Sơn, Côn Minh tới Mặc Giang (trên đường tới Cảnh Hồng), Côn Minh tới Khúc Tĩnh, Côn Minh tới Thạch Lâm (rừng đá). Kế hoạch chính thức là tới năm 2010 sẽ nối toàn bộ các thành thị chính và thủ phủ của các tỉnh láng giềng bằng đường cao tốc và dự định hoàn thành hệ thống đường cao tốc vào năm 2020.

Tất cả các thị trấn hiện nay đều có thể tới được bằng các tuyến đường có bề mặt cứng trong mọi thời tiết, từ Côn Minh, tất cả các thị tứ đều có đường liên kết (thị tứ cuối cùng được nối vào là Dương Lạp, ở xa về phía bắc của tỉnh, nhưng Độc Long Giang vẫn bị cô lập trong vòng khoảng 6 tháng mỗi năm), và khoảng một nửa các làng quê có đường đi tới.

Tổng độ dài của đường quốc lộ cấp II là 958 km, cấp III là 7.571 km và cấp IV là 52.248 km. Tỉnh này cũng đã thành lập một mạng lưới liên lạc viễn thông từ Côn Minh tỏa ra tới Tứ Xuyên, Quý Châu, Quảng Tây, Tây Tạng, cũng như xa hơn sang tới tận Myanma, Lào, Việt Nam và Thái Lan.

Đường thủy

Nói chung, các sông là trở ngại đối với giao thông vận tải của Vân Nam. Chỉ một phần rất nhỏ trong hệ thống sông ngòi ở Vân Nam là có thể phục vụ cho giao thông đường thủy.

Năm 1995, tỉnh này đã đầu tư 171 triệu NDT để bổ sung thêm 807 km đường giao thông thủy mới. Người ta đã xây dựng 2 cầu tàu với năng lực xếp dỡ mỗi năm đạt 300.000-400.000 tấn/cầu tàu và 4 cầu tàu với năng lực xếp dỡ 100.000 tấn/cầu tàu. Khối lượng xếp dỡ hàng hóa mỗi năm khoảng 2 triệu tấn và luân chuyển hành khách khoảng 2 triệu người.

Sân bay

Tỉnh này có 20 tuyến đường bay từ Côn Minh tới Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thành Đô, Hải Khẩu, Trùng Khánh, Thẩm Dương, Cáp Nhĩ Tân, Vũ Hán, Tây An, Lan Châu, Hàng Châu, Hạ Môn, Nam Ninh, Thâm Quyến, Quý Dương, Trường Sa, Quế Lâm, LhasaHồng Kông; tám tuyến đường bay nội tỉnh từ Côn Minh tới Cảnh Hồng, Mông Tự, Lệ Giang, Đại Lý, Hương Cách Lý Nạp (Shangri-la hay Trung Điện), Chiêu Thông, Bảo SơnTư Mao; cũng như 8 đường bay quốc tế từ Côn Minh tới Bangkok, Chiang mai, Yangon, Singapore, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Kuala LumpurViêng Chăn.

Sân bay quốc tế Vu Gia Bá ở Côn Minh là sân bay hạng nhất cấp quốc gia còng các sân bay khác là các nhà ga hạng hai. Một sân bay mới cho Côn Minh, được xây ở phía đông thành phố, tại Đại Bản Kiều đã bắt đầu năm 2006, nhưng chỉ hoàn thành theo dự kiến vào năm 2015.

Dân cư

Vân Nam được biết đến như là tỉnh có số lượng sắc tộc lớn nhất tại Trung Quốc, và hiện nay người ta đã và đang tích cực trong công việc bảo tồn văn hóa, các di sản cùng ngôn ngữ của các dân tộc này:

Tất cả các dân tộc ít người này được phân loại theo phân loại chính thức của nhà nước CHND Trung Hoa, tuy nhiên, trong mỗi nhóm sắc tộc lại tồn tại các phân nhóm hoàn toàn khác biệt về tập quán, ngôn ngữ khi so sánh với các phân nhóm khác trong cùng nhóm.

Văn hóa

Câu đối Tết, viết tay và dán trên cửa nhà, phố cổ Lệ Giang
Câu đối Tết, viết tay và dán trên cửa nhà, phố cổ Lệ Giang
Xem thêm: Ẩm thực Vân Nam.

Một trong những sản phẩm nổi tiếng của Vân Nam là Phổ Nhị trà, được đặt tên theo thị trấn kinh doanh chè thời cổ là Phổ Nhị, cũng như trà kim vàng Vân Nam.

Du lịch

Các trung tâm du lịch tại Vân Nam bao gồm:

Thể thao

Các đội thể thao chuyên nghiệp tại Vân Nam có:

Tứ Xuyên

 

四川省
Tứ Xuyên tỉnh
Tên tắt: 川 Xuyên / 蜀 Thục (bính âm: Chuān / Shǔ)
Tứ Xuyên được tô đậm trên bản đồ
Xuất xứ tên gọi rút gọn của 川峡四路 xuyên hạp tứ lộ
nghĩa là "bốn lộ
sông và hẻm núi",
vào thời nhà Tống.
Kiểu hành chính Tỉnh
Thủ phủ
thành phố lớn nhất
Thành Đô
Bí thư tỉnh ủy Tứ Xuyên Trương Học Trung 张学忠
Tỉnh trưởng Trương Trung Vĩ 张中伟
Diện tích 485.000 km² (thứ 5)
Dân số (2004)
 - Mật độ
87.250.000 (thứ 3)
180/km² (thứ 22)
GDP (2004)
 - trên đầu người
655,6 tỷ NDT (thứ 9)
7510 NDT (thứ 26)
HDI (2005) 0,728 (thứ 24) — trung bình
Các dân tộc chính (2000) Hán - 95%
Di - 2.6%
Tạng - 1.5%
Khương - 0.4%
Cấp địa khu 21
Cấp huyện 181
Cấp hương
(31 tháng 12, 2004)
5011
ISO 3166-2 CN-51
Website chính thức:
http://www.sichuan.gov.cn/
(chữ Hán giản thể)
Nguồn lấy dữ liệu dân số và GDP:
《中国统计年鉴—2005》/ Niên giám thống kê Trung Quốc 2005 ISBN 7503747382
Nguồn lấy dữ liệu dân tộc:
《2000年人口普查中国民族人口资料》/ Tư liệu nhân khẩu dân tộc dựa trên điều tra dân số năm 2000 của Trung Quốc ISBN 7105054255

(tiếng Trung Quốc: 四川; Bính âm: Sìchuān; Wade-Giles: Ssŭ-ch'uan; bính âm bưu chính: SzechwanSzechuan) là một tỉnh tại phía tây miền trung Trung Quốc. Thủ phủ là Thành Đô.

 

Lịch sử

Lãnh thổ của tỉnh và các khu tự quảng của nó là chiếc nôi của các nền văn minh địa phương có một không hai mà có thể tìm ngược về ít nhất là Thế kỷ thứ 15 trước công nguyên (vài năm sau thời Nhà Thương). Bắt đầu từ thế kỷ 9 trước công nguyên, Thục Quốc (ngày nay là Thành Đô) và Ba Quốc (ngày nay là thành phố Trùng Khánh) nhập lại thành các trung tâm quản trị và văn hóa mà hai vương quốc kình chống nhau được thành lập.

Sự tồn tại của Thục Quốc không được biết đến cho đến khi có cuộc khám phá khảo cổ năm 1986 ở một ngôi làng nhỏ tên Tam Tinh Đôi ở huyện Quảng Nguyên. Người ta tin rằng đó là một thành phố cổ của Thục Quốc, cuộc khai quật đã cho nhiều thông tin khảo cổ vô giá.

Mặc dù Nhà Tần đã đến tàn phá văn minh của Thục Quốc và Ba Quốc, nền văn hóa của hai tiểu quốc vẫn được bảo tồn và còn được người dân Tứ Xuyên thừa hưởng cho đến ngày nay. Triều đình nhà Tần cũng tăng tốc các tiến bộ nông nghiệp và kỹ thuật của Tứ Xuyên sánh ngang hàng với vùng Thung lũng Hoàng Hà. Hệ thống tưới tiêu Đô Giang Yển được xây dựng vào thế kỷ 3 trước công nguyên dưới sự giám sát của Lý Băng là biểu tượng của hiện đại hóa trong thời kỳ đó. Nó gồm có một loạt nhiều đập và làm đổi hướng dòng chãy của Mân Giang, một nhánh sông chính của Giang Tử Giang, đến các cánh đồng và giảm bớt sự thiệt hại của các trận lũ muà. Việc xây dựng này và nhiều công trình khác nhau đã gia tăng rất lớn thu hoạch nông sản trong khu vực mà như thế trở thành nguồn cung cấp dự trữ lương thực và nhân lực cho việc thống nhất Trung Hoa của nhà Tần.

Có rất nhiều loại mỏ quặng ở đây. Thêm vào sự nổi bật của nó, khu vực này cũng nằm trên con đường buôn bán từ vùng Thung lũng Hoàng Hà đến các nước ngoài ở phía tây nam, đặc biệt là Ấn Độ.

Tầm quan trọng về quân sự xứng hợp với các giá trị nông nghiệp và giao thương. Vì vùng này thật sự là một cái lòng chảo và vây quanh bởi dãy núi Himalayas về phía tây, dãy núi Tần Lĩnh về phía bắc, và các vùng núi đồi của Vân Nam về hướng nam, khí hậu thì thường có sương mù dày đặc. Vì sông Dương Tử chảy qua lòng chảo và như thế khu vực này là phần cao của dòng chảy so với các vùng phía đông của Trung Hoa, thủy quân có thể dễ dàng thả theo dòng xuống phía dưới. Thế nên vùng này từng là các căn cứ của nhiều nhóm quân phiệt có tham vọng và người tị nạn lẫn trốn các chính quyền của Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử. Một vài chính thể độc lập được thiết lập; nổi bật nhất là Thục Hán thời Tam Quốc. Nhà Tấn xâm chiếm và thôn tính Thục Hán trước tiên khi thực hiện việc thống nhất. Trong suốt thời Nhà Đường, vùng này là tiền tuyến chống Tây Tạng.

Nhà Nam Tống (960-1279) thiết lập phòng thủ điều hợp chống lại Nhà Nguyên Mông Cổ tại Tứ Xuyên và Tương Dương. Hàng rào phòng thủ cuối cùng bị phá vở sau khi quân Nguyên sử dụng súng và thuốc nổ đầu tiên trong lịch sử trong cuộc bao vây Tương Dương sáu năm. Khí hậu có sương mù đã ngăn cản quân đội Nhật Bản dội bom chính xác xuống vùng lòng chảo và thành phố Trùng Khánh nơi mà chính phủ Trung Hoa Dân Quốc di chuyển thủ đô của mình đến đó trong Đệ nhị Thế chiến.

Biên giới của Tứ Xuyên vẫn giữ nguyên như vậy khoảng 500 năm. Điều này thay đổi khi thành phố Trùng Khánh cũng như các thị trấn xung quang là Phù LăngVạn Châu được nhập lại thành khu hành chính mới là Thành phố Trực thuộc Trung Ương Trùng Khánh. Khu hành chính mới được thành lập là nổ lực ban đầu của Trung Hoa để phát triển các vùng phía tây cũng như điều hợp tái định cư dân tị nạn từ kế hoạch Đập Tam Khẩu.

Các đơn vị hành chính

Tứ Xuyên có 18 thành phố (địa cấp thị) và 3 châu tự trị:

Địa lý

Vùng này nằm trong Lòng chảo Tứ Xuyên và bị vây quanh bởi dãy núi Himalayas (喜玛拉雅山脉) về phía tây, dãy núi Tần Lĩnh về phía bắc, và các vùng núi đồi của Vân Nam về hướng nam. Sông Dương Tử chảy qua lòng chảo và như vậy nó là thượng nguồn đối với các vùng phía đông của Trung Hoa. Sông Mân Giang ở trung tâm Tứ Xuyên là một nhánh của thượng nguồn Sông Dương Tử mà nó nhập vào tại Nghi Tân.

Khí hậu thường có sương mù dày đặc. Có những thành phố bị ô nhiểm đôi chút và ít khi có ngày nắng.

Các tỉnh bao quanh: Trùng Khánh, Khu tự trị Tây Tạng, Thanh Hải, Cam Túc, Thiểm Tây, Quí ChâuVân Nam.

Kinh tế

Thủ đô của Tứ Xuyên, Thành Đô
Thủ đô của Tứ Xuyên, Thành Đô

Tứ Xuyên đã được biết trong lịch sử là "Tỉnh giàu có". Nó là một trong những nơi sản xuất nông nghiệp chính của Trung Quốc. Ngũ cốc bao gồm lúa gạo và lúa mì, là nông sản có sản lượng hàng đầu tại Trung Quốc năm 1999. Các vụ mùa sản xuất để bán bao gồm các loại cam chanh, mía đường, khoai lang, và hạt cải dầu. Tứ Xuyên cũng có sản lượng thịt heo lớn nhất trong tất cả các tỉnh và đứng thứ nhì về sản lượng nông tầm tại Trung Quốc năm 1999. Tứ Xuyên giàu tài nguyên khoáng sản. Nó có hơn 132 loại khoáng sản tiềm năng dưới đất mà trử lượng của 11 loại bao gồm Vanadium, titanium, và lithium là lớn nhất tại Trung Quốc. Chỉ riêng vùng Tứ Xuyên không đã có trữ lượng 13,3% quặng sắt, 93% quặng titanium, 69% vanadium, 83% cobalt của toàn quốc. [1]

Tứ Xuyên là một trong các vùng kỹ nghệ chính của Trung Quốc. Ngoài kỹ nghệ nặng như than, năng lượng, kỹ nghệ sắt thép, tỉnh đã thiết lập được một ngành sản xuất nhẹ gồm vật liệu xây dựng, làm gỗ, thực phẩm và dệt lụa. Thành Đô và Mân Giang là trung tâm sản xuất hàng dệt may và đồ điện tử. Đức Dương, Phàn Chi Hoa, và Nghi Tân là trung tâm sản xuất cơ khí, kỹ nghệ luyện kim và rượu theo thứ tự. Sản xuất rượu của Tứ Xuyên có sản lượng 21,9% tổng sản lượng toàn quốc năm 2000. Những bước tiến vĩ đại đã đạt được trong việc tăng tốc sự phát triển Tứ Xuyên thành một trung tâm công nghệ cao hiện đại bằng khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước trong ngành điện tử và công nghệ thông tin (như nhu liệu), máy móc và luyện kim (bao gồm xe hơi), thủy điện, dược phẩm, lương thực và giải khát. Công nghệ chế tạo xe hơi là quan trọng và là một ngành chủ chốt của công nghệ chế tạo máy móc tại Tứ Xuyên. Đa số các công ty sản xuất xe hơi có trụ sở ở Thành Đô, Mân Giang, Nam Sung, và Lô Châu [2]. Các ngành kỹ nghệ quan trọng khác tại Tứ Xuyên còn có kỹ nghệ không gian và quốc phòng. Một số hỏa tiển của Trung Quốc (Hỏa tiển Trường Chinh) và vệ tinh nhân tạo đã được phóng từ Trung tâm Phóng Vệ tinh Tây Xương nằm trong thành phố Tây Xương. Những cảnh quang đẹp và giàu di tích lịch sử cũng đả làm tỉnh này trở thành một trung tâm du lịch chính.

Đập Tam Khẩu, đập lớn nhất chưa từng được xây, đang được xây dựng trên Sông Dương Tử trong tỉnh Hồ Bắc lân cận để kiểm soát lục lội ở vùng Lòng chảo Tứ Xuyên, tỉnh Vân Nam kế cạnh, và hạ nguồn. Kế hoạch được nhiều người hoan hô như một nổ lực của Trung Quốc nhằm đổi hướng về dùng nguồn năng lượng thay thế và gia tăng phát triển các vùng trung tâm thương mại và kỹ nghệ của Trung Quốc nhưng cũng có những người khác chỉ trích nó vì các hậu quả thiệt hại có thể xảy ra như việc tái định cư số lượng lớn người tị nạn, mất các khu khảo cổ và xâm hại hệ sinh thái.

Tổng sản phẩm nội địa của Tứ Xuyên trong năm 2004 là khoảng 655,6 tỉ Nhân dân Tệ ($81.33 tỉ đô la) và bình quân đầu người là 6.270 Nhân dân Tệ (757 USD). Năm 2005, Lợi tức đầu người ở vùng nông thôn tăng đến 2.800 tệ (US$350), tăng 8,6% so với năm trước. Lơi tức tính theo đầu người của dân thành thị là 8.386 tệ (US$1,048), tăng 8,8% so với năm trước. [3]

Nhân khẩu

Đa số dân chúng là người Hán, họ sống khắp nơi trong toàn tỉnh. Người dân thiểu số đáng kể là người Tây Tạng, người Lô Lô, người Khươngngười Nạp Tây sống trong phần phía tây.

Văn Hoá

Đền tưởng niệm Lý Bạch, được xây tại nơi sinh của ông là thị trấn Trọng Ba thuộc phía bắc Huyện Giang Du trong tỉnh Tứ Xuyên, là một viện bảo tàng tưởng niệm Lý Bạch, một thi sỉ thời Nhà Đường (618-907). Nó được bắt đầu xây dựng vào năm 1962 nhân dịp lễ kỷ niệm 1.200 năm ngày ông mất, hoàn thành năm 1981 và mở cửa cho công chúng vào tháng 10 năm 1982. Đền tưởng niệm được xây theo lối kiến trúc hoa viên cổ thời nhà Đường.

Ngôn ngữ

Hầu như có đủ các loại tiếng Trung Hoa được nói tại Tứ Xuyên, bao gồm tiếng Thành Đô ở thủ phủ tỉnh thuộc chi hệ tiếng Quan Thoại tây nam cuả nhóm tiếng Quan Thoại, và vì thế rất giống tiếng cuả các tỉnh lân cận như Vân Nam, Quí Châu cũng như thành phố Trùng Khánh.

Cá khu tự trị ở miền tây Tứ Xuyên có đa số người Tây Tạng sinh sống. Họ nói các ngôn ngữ thuộc nhóm tiếng Tây Tạng như KhamAmdo. Người Khương tộc và các dân tộc có liên hệ nói các ngôn ngữ Khương tộc, đây cũng là một nhánh cuả hệ ngôn ngữ Tạng Miến. Người Lô Lô ở khu tự trị Lương Sơn thuộc miền nam Tứ Xuyên nói tiếng Lô Lô là ngôn ngữ có quan hệ gần gũi với tiếng Miến Điện.

Các trường cao đẳng và đại học

Du lịch

Các khu di sản thế giới cuả UNESCO:

Ma Cao

 

澳門特別行政區
Região Administrativa Especial de Macau
Quốc kỳ Ma Cao Quốc huy Ma Cao
Quốc huy
Khẩu hiệu
không có
Quốc ca
March of the Volunteers
(quốc ca của Trung Quốc)
Vị trí của Ma Cao
Thủ đô 1
22°10′N, 113°33′E
freguesia (population) lớn nhất Freguesia de Nossa Senhora de Fátima
Ngôn ngữ chính thức Hoa (Quảng Đông)
Bồ Đào Nha
Chính phủ
 -  Trưởng Đặc khu Edmund Ho Hau-wah
Thành lập
 -  Thành lập bởi người Hoa bản địa Thế kỷ thứ 5 sau CN 
 -  Bị Bồ Đào Nha xâm lăng 1557 
 -  Thành thuộc địa của Bồ Đào Nha 13 tháng 8 năm 1862 
 -  Đặc khu hành chính 20 tháng 12 năm 1999 
Diện tích
 -  Tổng số 28,2 km² (hạng not ranked)
 -  Nước (%) 0
Dân số
 -  Ước lượng  513,400[1] 
 -  Điều tra 2000 431.000 
 -  Mật độ 17,310 /km² (hạng 2nd)
GDP (PPP) Ước tính 2006
 -  Tổng số $14.3 billion (hạng 139)
 -  Theo đầu người $28,4362 (hạng 2006)
HDI (2004) 0.9093 (high) (25th)
Múi giờ MST (UTC+8)
Tên miền Internet .mo
Mã số điện thoại +853
1 Historically, the capital was "Cidade do Nome de Deus de Macau" (or Macau Peninsula; this name abolished upon reunification). The government headquarters were located in the St. Lawrence Parish.
2 Information obtained from the Direcção dos Serviços de Estatística e Censos (Statistics and Census of the Government of Macau Special Administrative Region).
3 The UN did not calculate the HDI of Macau. The government of Macau calculates its own HDI as of 2003 as 0.909. If included among UN HDI figures, Macau (same figure as the Republic of China) would rank 25th (high), between Singapore and Greece. Information can be obtained from Statistics and Census Service, Macau SAR.
Lá cờ của Macao
Lá cờ của Macao
Quốc huy của Macao
Quốc huy của Macao

Đặc khu hành chính Ma Cao nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (tiếng Trung: 中華人民共和國澳門特別行政區; tiếng Bồ Đào Nha: Região Administrativa Especial de Macau da República Popular da China, viết tắt là RAEM), còn gọi là Ma Cao, Macau hay Macao (tiếng Hán: 澳門; Hán Việt: Áo Môn) là một đặc khu hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

 

Vị trí Địa lý

Ma Cao là một vùng lãnh thổ nhỏ bé với diện tích mặt đất tổng cộng chỉ khoảng 21km2 nằm ở vùng duyên hải phía đông - nam Trung Hoa Đại lục, được bao bọc bởi tỉnh Quảng Đông của CHND Trung Hoa và biển nam Trung Hoa ở phía nam. Vùng lãnh thổ Ma Cao có 3 khu vực chính là bán đảo Áo Môn, đảo Taipa và đảo Co-lo-an.

Đường biên giới hành chính trên đất liền của Ma cao nằm trên bán đảo Áo Môn ở phía Bắc, giáp với thành phố Chu Hải của tỉnh Quảng Đông.

Lịch sử

Kinh tế

Đặc khu hành chính Macao là một trong số các nước, vùng lãnh thổ có nền kinh tế phát triển trên thế giới. Với GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 17.550USD khiến cho Macao trở thành nơi có mức sống thuộc hàng cao nhất của Châu Á. Các ngành kinh tế chính của Macao được phân chia theo tỉ trọng như sau: Công nghiệp chiếm 25% GDP, nông nghiệp 0%, dịch vụ 75%GDP (Tương đối).

  • Công nghiệp: Dệt là ngành sản xuất và xuất khẩu chính của Macao, chiếm 75% kim ngạch xuất khẩu của toàn vùng lãnh thổ. Bên cạnh đó, sản xuất hàng điện tử, đồ chơi và hoa giả cũng góp phần quan trọng vào cán cân kim ngạch xuất - nhập khẩu của Macao. Năm 2005, Macao xuất khẩu đạt gần 2 tỷ USD, nhập khẩu đạt 1,7 tỷ USD.
  • Nông nghiệp: Cũng giống như Singapore, Hongkong - Macao không có ngành nông nghiệp, vì lãnh thổ có diện tích quá nhỏ hẹp và không được bằng phẳng nên các sản phẩm nông nghiệp được nhập chủ yếu từ Trung hoa Đại lục và một số nước trong khu vực.
  • Dịch vụ: Có thể nói Macao là một nền kinh tế có tỷ trọng về ngành dịch vụ thuộc hàng cao nhất trên thế giới theo GDP: chiếm 75%. Các ngành dịch vụ chủ yếu của Macao là kinh doanh sòng bạc, du lịch và tài chính. Năm 2006 Macao đón trên 16 triệu du khách nước ngoài ( kể cả du khách đến từ Trung hoa đại lục). Tài chính cũng là thế mạnh kinh tế của vùng lãnh thổ Macao kể từ khi còn thuộc Bồ Đào Nha. Nhưng quan trọng nhất của ngành dịch vụ ở Macao là lợi nhuận từ kinh doanh sòng bài. Năm 2006, lần đầu tiên Macao đã vượt qua thủ đô cờ bạc thế giới là Las Vegas (Hoa Kỳ) để trở thành trung tâm cờ bạc có doanh thu lớn nhất thế giới. Từ đây kéo theo một loạt ngành dịch vụ khác phát triển theo như khách sạn, hàng không, mua sắm...

Văn Hoá

Du lịch

Macao là vùng lãnh thổ có ngành du lịch rất phát triển. Với đặc điểm nổi bật là nơi có nền văn hoá Đông - Tây pha trộn nhau đã làm cho Ma Cao trở thành nơi vừa rất kín và cũng vừa rất mở (Casino và sex show). Vì phần lớn dân cư của Macao là người Hoa và được người Bồ Đào Nha tiếp quản và truyền bá văn hoá phương Tây từ rất lâu nên mới có sự pha trộn trên. Năm 2006, Macao đón trên 7 trịêu du khách nước ngoài. Nếu tính luôn cả du khách đến từ Trung Hoa đại lụcHongkong thì con số này là trên 16 triệu người - một con số khổng lồ so với diện tích và dân số của Macao. Trước hết du lịch Macao phát triển mạnh là do chính quyền quản lý trước đây của Macao là Bồ Đào Nha đã mở cửa thông thoáng theo phong cách Phương Tây và sau này là CHND Trung Hoa cũng dành quy chế đặc biệt để cho Macao phát triển theo. Quần thể các sòng bạc đồ sộ và sang trọng mang dáng dấp Phương Tây và Trung Hoa của Macao đã minh chứng cho điều đó. Đây cũng là nơi mà du khách có lý do ghé thăm nhiều nhất. Bên cạnh khách du lịch với mục đích "đỏ đen" ở các casino, Macao còn hấp dẫn du khách về mặt lịch sử, nghỉ dưỡng và mua sắm. Khu lịch sử Macao bao gồm Quảng trường Senado, tàn tích Nhà thờ Thánh PaulPháo đài cổ Bồ Đào Nha được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới vào năm 2005. Tượng Mẹ Nam Hải, Cầu Taipa... cũng là những địa điểm du lịch chính của Macao. Hiện tại Macao vừa đưa vào hoạt động khách sạn Venetian Macao lớn nhất châu Á [1]. Hiện tại du khách đến từ HongkongTrung hoa đại lục chiếm phần lớn trên tổng số du khách đến Macao hàng năm. Các cửa khẩu của Macao luôn đông nghẹt du khách qua lại, nhất là cửa khẩu đường bộ nối Macao với thành phố Chu Hải. Macao hiện có 3 cửa khẩu quốc tế chính, đó là:

Mặc dù Macao, Trung Hoa đại lụcHongkong đều thuộc CHND Trung Hoa nhưng người dân của HongkongTrung Hoa đại lục khi vào Macao cũng buộc phải làm thủ tục xuất - nhập cảnh bằng hộ chiếu như khách nước ngoài khác.

Các thành phố kết nghĩa

CAMPUCHIA

Vương quốc Campuchia (chữ Khmer: Image:Official_name_of_Cambodia.png), cũng còn được gọi là Căm Bốt (theo tiếng Pháp: Cambodge) hay Cao Miên (theo âm Hán-Việt của từ "Khmer"), là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương ở vùng Đông Nam Á, nằm nối liền với vịnh Thái Lan ở phía Nam, Thái Lan ở phía Tây, Lào ở phía Bắc và Việt Nam ở phía Đông. Campuchia có ngôn ngữ chính thức là tiếng Khmer, thuộc nhóm Môn-Khmer trong hệ Nam Á.

Lịch sử

Bài chính: Lịch sử Campuchia

Nền văn minh đầu tiên được biết tại Campuchia xuất hiện vào khoảng thiên niên kỷ thứ nhất; từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 13, nền văn minh Khmer đã phát triển rực rỡ ở đây.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Phù Nam (Funan) là vương quốc cổ, tồn tại từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 7, thời thịnh trị có lãnh thổ rộng lớn ở phía nam bán đảo Đông Nam Á, bao gồm Campuchia, nam Việt Nam, nam Thái Lan ngày nay. Lúc này ở khu vực Bắc Campuchia và Nam Lào có một thuộc quốc là Chân Lạp (Chenla) được hình thành từ thế kỷ 5 của tộc người Môn-Khmer. Vào thế kỷ 7, Chân Lạp thoát khỏi sự lệ thuộc vào Phù Nam rồi chiếm toàn bộ lãnh thổ Phù Nam.

Triều đại cầm quyền của Chân Lạp có nguồn gốc từ nhân vật thần thoại Campu, lấy nàng Naga (con gái thần nước, biến từ rắn thành thiếu nữ). Tên gọi Campuchia, xuất hiện vào khoảng thế kỷ 10, gắn với tên nhân vật này. Sau năm 707, Chân Lạp tách thành hai quốc gia Lục Chân LạpThủy Chân Lạp.

Sau hàng thế kỷ (từ thế kỷ 15,16,17,18) bị mất đất đai và dân số cho các quốc gia Thái LanViệt Nam thì Campuchia lại bị bảo hộ bởi Pháp vào năm 1863. Sau sự xâm chiếm của Nhật Bản trong Thế chiến thứ hai thì Pháp lại quay lại. Campuchia tuyên bố độc lập vào năm 1953, trở thành một vương quốc. Năm 1960, Thái tử Norodom Sihanouk lên làm Quốc trưởng chứ không làm vua sau khi vua cha mất. Ông thi hành chính sách trung lập.

Thời kỳ Chiến tranh Việt Nam

Trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), Lực lượng Cộng sản của Trung ương Cục R đã sử dụng những lãnh thổ biên giới Campuchia gần Việt Nam như 1 căn cứ địa để chống lại chính quyền Việt Nam Cộng Hòa nên Hoa Kỳ đã ném hàng loạt bom xuống các vùng Cộng sản ở Campuchia. Một số nguồn ước tính số thương vong dân sự tại đây đạt tới con số 100.000 người[1]. Năm 1970, tướng Lon Nol làm đảo chính lật đổ triều đình Phong kiến và lên nắm quyền tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Khmer. Chính quyền này đã bị lật đổ bởi những người theo đường lối dân tộc cực đoan và mang danh cộng sảnKhmer Đỏ được Bắc Việt Nam giúp đỡ trong năm 1975.

Khmer Đỏ cầm quyền

Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo nắm được chính quyền vào năm 1975. Họ chiếm thủ đô Phnom Penh và bắt đầu lùa dân ra khỏi thành thành thị vào tháng 10 năm 1974, PhnomPenh trở thành một thành phố chết - không có cư dân sinh sống. Trong thời gian này tiền tệ bị xoá bỏ và Khmer Đỏ thực hiện triệt để chính sách "tự cung tự cấp" - bài phương Tây và "quyết tâm xây dựng Xã hội Chủ nghĩa trong vòng 6 tháng"[1]. Lao động khổ sai, bệnh tật, hành hình và "thanh trừng" đã làm khoảng hơn 1,7 triệu người đã chết trong khoảng thời gian năm 4 cải tạo xã hội của Khmer Đỏ (1975 - 1979). Và kể từ đó tên quốc tế của nước này là Kampuchea Dân chủ

Trong những năm nắm quyền, trong nội bộ Khmer Đỏ đã có sự thanh trừng lẫn nhau mà kết quả là những người thân Cộng sản Việt Nam bị bài trừ và phải bỏ trốn sang Việt Nam. Trong thời gian này 2 bên đã có những xung đột biên giới nhỏ nhưng kéo dài.

Cuối năm 1978 sau khi chính quyền Pol Pot đem quân tấn công biên giới với Việt Nam thì Việt Nam tổ chức chiến dịch phản công và theo yêu cầu giúp đỡ của lực lượng thân Việt Nam ở Campuchia, Việt nam đưa quân vào Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ (7 tháng 1 năm 1979) và đưa quân tới sát biên giới phía tây với Thái Lan.

Tiếp theo là 13 năm chiếm đóng Campuchia của Việt Nam và các phe nhóm khác nhau ở Campuchia đa số đều quay ra chiến đấu chống bộ đội Việt Nam. Các cuộc chiến nhỏ lẻ tẻ diễn ra liên tục trước khi Việt Nam buộc phải rút lui năm 1989 và Liên hiệp quốc hỗ trợ bầu cử năm 1993 và giúp cho nước này khôi phục lại tình trạng bình thường.

Cộng hòa Nhân dân Campuchia

Được Việt Nam hậu thuẫn, ngày 8 tháng 1 năm 1979 Hội đồng Nhân dân Cách mạng nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia do Heng Samrin làm Chủ tịch đã được thành lập. Tuy vậy chính quyền này chỉ được một số nước cộng sản công nhận và chưa tự bảo vệ được mà vẫn cần đến sự có mặt của quân đội Việt Nam. Năm 1981, Cộng hòa Nhân dân Campuchia tổ chức bầu quốc hội và ban hành hiến pháp.

Trong thời gian này, Kampuchea Dân chủ của Khmer Đỏ vẫn giữ được ghế đại diện cho Campuchia ở Liên hiệp quốc.

Ngày 22 tháng 6 năm 1982, Chính phủ Liên hiệp ba phái Campuchia do Norodom Sihanouk làm Chủ tịch, Khieu Samphon (phái Khmer Đỏ) làm Phó Chủ tịch và Son Sann (phái thứ ba) làm Thủ tướng được thành lập tại Kuala Lumpur (Malaysia).

Việt Nam đã rút quân ra khỏi Campuchia trước kế hoạch (1990) và chính phủ tại Phnom Penh chấp nhận đàm phán với Chính phủ Liên hiệp ba phái Campuchia. Việc rút quân đội Việt Nam được hoàn tất ngày 26 tháng 9 năm 1989.

Sihanouk trở về

Sau nhiều phen thương lượng, Hoàng thân Sihanouk đã trở về Phnom Penh ngày 23 tháng 11 năm 1991 sau 13 năm vắng mặt và một cuộc tuyển cử tự do được tổ chức năm 1993 dưới sự giám sát của Liên hiệp quốc.

Chính phủ liên hiệp được lập sau bầu cử 1998 đem lại sự ổn định về chính trị, Khmer Đỏ không tham gia mà tiếp tục chống đối. Không có ai trong số các thủ lĩnh của Khmer Đỏ bị xét xử vì những tội ác diệt chủng mà họ đã phạm trong ba năm nắm chính quyền của họ.

Ngay sau đó, Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia lật ngược tình thế: loại các thành phần hoàng gia chống đối rồi tiêu diệt, bắt giữ Khmer Đỏ. Hậu quả của thời kỳ Hoàng thân Sihanouk trở về là một số nơi rơi vào tình trạng vô chính phủ, nay đang được khắc phục.

Thời kỳ Hun Sen

Campuchia mở của và thân thiện với thế giới, sớm gia nhập WTO. Tuy vậy, kinh tế và mức sống vẫn phát triển chậm. Một phần do điểm xuất phát quá thấp (gần như bằng 0 sau giải phóng 1979) và một phần do quyền lực thực tế của chính quyền chưa hoàn thiện.

Kinh tế Campuchia quan hệ rất gần gũi với Việt Nam.

Việc xét xử Khmer Đỏ diễn ra hết sức chậm chạp do những thế lực đã ủng hộ họ. Phần lớn các nhân vật quan trọng của tổ chức này đã chết già mà không bị tòa kết án.

Chính trị

Bài chính: Chính trị Campuchia

Chính trị Campuchia đươc nhiều người nước ngài biết đến bởi thời kỳ diệt chủng của Khmer Đỏ, việc này gây ra những đổ vỡ lớn trong nội bộ những nước đã từng ủng hộ chế độ này.

Đất nước này được cai trị bởi Quốc vương Norodom Sihanouk sau khi ông trở lại làm vua vào tháng 9 năm 1993. Đây là chế độ quân chủ lập hiến và trên thực tế quốc vương không điều hành đất nước. Cuối tháng 10 năm 2004 Norodom Sihanouk truyền ngôi lại cho Thái tử Norodom Sihamoni.

Đảng cầm quyền hiện nay là Đảng Nhân dân Campuchia (CPP), thủ tướng đương nhiệm là Hun Sen.

Campuchia là thành viên của Liên hiệp quốcHiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Nước này đã đạt được sự ổn định tương đối về chính trị trong những năm gần đây, kể từ khi chế độ Khmer Đỏ bị lật đổ năm 1979 bởi Việt Nam.

Các tỉnh

Bài chính: Tỉnh Campuchia

Bản đồ Căm Bốt
Bản đồ Căm Bốt

Campuchia được chia thành 20 tỉnh (khett, số ít và số nhiều) và 4 thành phố trực thuộc trung ương (krong, số ít và số nhiều). Các đơn vị hành chính cấp thấp là huyện (srok), xã (khum). Ngoài ra còn có các đảo (koh).

  1. Các thành phố (Krong):
  2. Các tỉnh (Khett):
  3. Các đảo (Koh):

Địa lý

Bài chính: Địa lý Campuchia

Diện tích Campuchia khoảng 181.040 km², có 800 km biên giới với Thái Lan về phía bắc và phía tây, 541 km biên giới với Lào về phía đông bắc, và 1.137 km biên giới với Việt Nam về phía đông và đông nam. Nước này có 443 km bờ biển dọc theo Vịnh Thái Lan.

Đặc điểm địa hình nổi bật là một hồ lớn ở vùng đồng bằng được tạo nên bởi sự ngập lụt. Đó là hồ Tonle Sap (Biển Hồ), có diện tích khoảng 2.590 km² trong mùa khô tới khoảng 24.605 km² về mùa mưa. Đây là một đồng bằng đông dân, phù hợp cho cấy lúa nước, tạo thành vùng đất trung tâm Campuchia. Phần lớn (khoảng 75%) diện tích đất nước nằm ở cao độ dưới 100 mét so với mực nước biển, ngoại trừ dãy núi Cardamon (điểm cao nhất là 1.771 m), phần kéo dài theo hướng bắc-nam về phía đông của nó là dãy Voi (cao độ 500-1.000 m) và dốc đá thuộc dãy núi Dangrek (cao độ trung bình 500 m) dọc theo biên giới phía bắc với Thái Lan.

Nhiệt độ dao động trong khoảng 10-38°C. Campuchia có các mùa mưa nhiệt đới: gió tây nam từ Vịnh Thái Lan/Ấn Độ Dương đi vào đất liền theo hướng đông bắc mang theo hơi ẩm tạo thành những cơn mưa từ tháng 5 đến tháng 10, trong đó lượng mưa lớn nhất vào khoảng tháng 9, tháng 10; gió đông bắc thổi theo hướng tây nam về phía biển trong mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, với thời kỳ ít mưa nhất là tháng 1, tháng 2.

Campuchia cũng là quốc gia có nhiều loài động vật quí hiếm trên thế giới sinh sống, nổi bật nhất là hổ, voibò tót khổng lồ. Rất nhiều loài đang đứng trước hiểm họa diệt chủng do nạn săn trộm và phá rừng.

Kinh tế

Bài chính: Kinh tế Campuchia

Sự phát triển của nền kinh tế Campuchia bị chậm lại một cách đáng kể trong thời kỳ 1997-1998 vì khủng hoảng kinh tế trong khu vực, bạo lực và xung đột chính trị. Đầu tư nước ngoài và du lịch giảm mạnh. Trong năm 1999, năm đầu tiên có được hòa bình thực sự trong vòng 30 năm, đã có những biến đổi trong cải cách kinh tế và tăng trưởng đạt được ở mức 5%. Mặc dù bị ngập lụt tràn lan, GDP tăng trưởng ở mức 5.0% trong năm 2000, 6.3% trong năm 2001 và 5.2% trong năm 2002. Du lịch là ngành công nghiệp tăng trưởng mạnh nhất của Campuchia, với số du khách tăng 34% trong năm 2000 và 40% trong năm 2001 trước sự kiện khủng bố 11 tháng 9 năm 2001 tại Mỹ. Mặc dù đạt được những sự tăng trưởng như vậy nhưng sự phát triển dài hạn của nền kinh tế sau hàng chục năm chiến tranh vẫn là một thách thức to lớn. Dân cư thất học và thiếu các kỹ năng nghề nghiệp, đặc biệt là ở vùng nông thôn nghèo đói gần như chưa có các điều kiện cần thiết của cơ sở hạ tầng. Sự lo ngại về không ổn định chính trị và tệ nạn tham nhũng trong một bộ phận chính quyền làm chán nản các nhà đầu tư nước ngoài và làm chậm trễ các khoản trợ giúp quốc tế. Chính quyền đang phải giải quyết các vấn đề này với sự hỗ trợ của các tổ chức song phương và đa phương.

Campuchia đã gia nhập tổ chức Tổ chức Thương mại Thế giới từ ngày 13 tháng 10 năm 2004.

Đầu năm 2007, nhiều nghiên cứu của Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng Thế giới, Đại học Harvard và nhiều tổ chức uy tín khác trên thế giới được công bố: cho rằng Campuchia có trữ lượng có thể lên đến 2 tỉ thùng dầu và 10.000 tỉ mét khối khí đốt.

Dân cư

Bài chính: Dân cư Campuchia

Campuchia là quốc gia thuần nhất về dân cư với hơn 90% dân số là người Khmer và nói tiếng Khmer, là ngôn ngữ chính thức. Các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 3% dân số. Dân tộc Chăm, theo đạo Hồi là nhóm sắc tộc thiểu số lớn nhất. Các nhóm sắc tộc thiểu số khác sống tại các khu vực miền núi và cao nguyên. Ở đây còn có rất nhiều cư dân người Việt (khoảng 12%).

Phật giáo Tiểu thừa bị Khmer đỏ hủy diệt đã được phục hồi là tôn giáo chính thức. Các tôn giáo khác như Thiên chúa giáo đang được du nhập vào.

Tiếng PhápTiếng Anh được nhiều người Campuchia sử dụng như là ngôn ngữ thứ hai và thông thường là ngôn ngữ phải học trong các trường phổ thông và đại học. Nó cũng được sử dụng thường xuyên trong chính quyền. Phần lớn trí thức mới của Camphuchia được đào tạo tại Việt Nam là một thuận lợi cho quan hệ kính tế, văn hóa ba nước Đông Dương.

Nghệ thuật

Bài chính: Kiến trúc của Campuchia

Kiến trúc của Campuchia phần lớn được biết đến nhờ vào những công trình được xây dựng từ thời thời người Khmer cổ đại (khoảng cuối thế kỷ 12, đầu thế kỷ 13). Đạo Phật và tư duy huyền thoại có ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật trang trí các công trình kiến trúc vĩ đại này.

Đặc trưng cơ bản của kiến trúc giai đoạn này là được xây dựng từ vật liệu gỗ, tre nứa hoặc rơm rạ và đá. Nhưng những gì còn lại ngày nay người ta có thể chiêm ngưỡng là các công trình bằng đá tảng như các bức tường thành, đường sá,... và các ngôi đền hoặc các con đường có những bao lơn tạc hình con rắn chín đầu, vươn cao 2-3 m, xòe rộng phủ bóng xuống mặt đường. Còn hình thức chung của các ngôi đền là có đỉnh chóp nhọn, bốn mặt đền được chạm trổ các bức phù điêu miêu tả cuộc sống con người ở thế giới bên kia, hoặc cuộc sống hiện tại của người dân Campuchia bấy giờ, hay cuộc chiến với nước láng giềng vũ nữ dân gian (Ápsara)với thân hành mềm mại, cân đối đang múa khá uyển chuyển, và sự tham gia của cả những con khỉ, con ngựa trong sử thi Ramanaya của Ấn Độ.

Bên cạnh đó, hình thức khắc những ký tự hay con số cũng rất phổ biến ở công trình. Các ngôi đền thường có 1 cửa còn ở ba phía còn lại của đền cũng có cửa nhưng chỉ là giả, để tạo cảm giác đối xứng cho ngôi đền. Công trình nổi tiếng nhất ở đây là ngôi đền Bayon với 200 gương mặt của thần Avalokitesvara (một dạng của Quan Âm Bồ Tát).

Chiêm ngưỡng những công trình này, ta không thể không khâm phục sức mạnh phi thường và bàn tay tài ba của những người dân Khmer cổ đại. Kiến trúc của Campuchia cũng có ảnh hưởng lớn đến kiến trúc của Thái Lan và người Chăm của Việt Nam.

Văn hoá

Bài chính: Văn hoá Campuchia

Ghi chú

  1. Con số ba triệu người chết từ năm 1975 đến năm 1979 được cung cấp bởi chính quyền Phnom Penh (PRK) thân Việt Nam. Cha Ponchaud ước tính là 2,3 triệu; dự án của trường Đại học Yale Genocide Project ước tính là 1,7 triệu; Tổ chức Ân xá Quốc tế ước tính là 1,4 triệu và bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ước tính là 1,2 triệu. Khieu Samphan và Pol Pot cho là 1 triệu và 800.000 người.

Những vấn đề liên quan

Hình ảnh đơn vị tiền tệ

Hình:cambodia-money.jpg

 

Preăh Réachéanachâkr Kâmpŭchea
Quốc kỳ Campuchia Quốc huy Campuchia
Quốc kỳ Quốc huy
Khẩu hiệu

(Tiếng Khmer: "Quốc gia, Tôn giáo, Hoàng thượng"
Quốc ca
Nokoreach
Vị trí của Campuchia
Thủ đô
(và là thành phố lớn nhất)
Phnom Penh
11°31′N, 104°49′E
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Khmer¹
Chính phủ Quân chủ lập hiến dân chủ
 -   • Vua
 • Thủ tướng
Norodom Sihamoni
Hun Sen
Độc lập
 -   • Từ sự cai trị của Pháp
 • Sau sự chiếm đóng của Việt Nam
 
Diện tích
 -  Tổng số 181,040 km² (hạng 87)
 -  Nước (%) 2,5%
Dân số
 -  Ước lượng 2004 13.363.421 (hạng 65)
 -  Điều tra 1998 11.437.656 (hạng 65)
 -  Mật độ 74 /km² (hạng 121)
GDP (PPP) Ước tính 2003
 -  Tổng số 29,344 tỉ Mỹ kim (hạng 86)
 -  Theo đầu người 2.189 Mỹ kim (hạng 132)
HDI (2003) 0,571 (trung bình) (hạng 130)
Đơn vị tiền tệ Riel² (KHR)
Múi giờ ĐNÁ (UTC+7)
 -  Mùa hè (DST) ĐNÁ (UTC+7)
Tên miền Internet .kh
Mã số điện thoại +855

¹ Nhiều người hiểu tiếng Pháptiếng Việt
² Đô la Mỹ rất thông dụng.

Xiêm Riệp (tỉnh)

Siem Reap
សៀមរាប
Tóm lược
Diện tích: 10,299 km²
Dân số: 696,164 (1998)
Mật độ dân: 68.1 người/km²
ISO 3166-2: KH-17
Bản đồ
Bản đồ tỉnh Xiêm Riệp (tỉnh) của Campuchia được tô đậm

Tỉnh Siem Reap, hay Xiêm Riệp, là một tỉnh tây bắc Campuchia, bên bờ của Hồ Tonlé Sap. Tỉnh lỵ của tỉnh này là thành phố Siem Reap. Tên Siem Reap có nghĩa là "người Xiêm bị đánh bại", nhắc đến chiến thắng của Đế quốc Khmer đối với quân Thái Lan dưới thời vua Ayutthaya thế kỷ 17. Ngày nay, thành phố Siem Reap nổi tiếng vì gần di tích các đền đài Di sản thế giới của Angkor Wat.

Overview

Tọa lạc tại Tây Bắc Campuchia, Siem Reap là nơi thu hút khách du lịch chính ở Campuchia nhờ vị trí của thành phố gần đền Angkor nhất. Hầu hết các ngôi đền được phát hiện như Angkor Wat (tiếng Anh: Capital Temple), được vua Suryavarman II xây dựng vào đầu thế kỷ 12 là các địa điểm thu hút khách du lịch. Gần đây thành phố đã mở rộng nhiều khách sạn, nhà hàng, cửa hàng để phục vụ du khách nước ngoài và trong nước. Quần thể đền Angkor nằm ở Bắc Siem Reap.

Có nhiều địa điểm du lịch khác gần Siem Reap như Angkor Thom được xây bởi Jayavarman VII, Banteay Srei, Ta Prohm, cũng như hàng trăm những ngôi đền đổ nát khác. Angkor, và khu vực xung quanh sẽ được biết ở Siem Reap, tái hiện lại trận đánh với Thái Lan, và không còn là thủ đô sau 7 tháng bao vây năm 1431. Thủ đô đã dời đến Phnom Penh năm 1432, và sau đó đến LovekOudong, trước khi dời lại về Phnom Penh năm 1866. Những ngôi đền đổ nát được phát hiện bởi những nhà thám hiểm phương Tây và những người truyền giáo trước vào thế kỷ 19, nhưng Henri Mouhot được xem như là có công "phát hiện" Angkor Wat vào năm 1860.

Khi dưới sự cai trị của Xiêm, tỉnh được đặt tên là Siam Nakhon (Thành phố Xiêm), và sau đó được đổi lại thành Siam Reap (nghĩa là "Xiêm thất trận") rồi Xiêm rơi vào tay thực dân Pháp vào năm 1906.

Đơn vị hành chính

Tỉnh này được chia thành 12 huyện:

1701 Angkor Chum អង្គរជុំ
1702 Angkor Thum អង្គរធំ
1703 Banteay srei បន្ទាយស្រី
1704 Chi Kraeng ជីក្រែង
1706 Kralanh ក្រលាញ់
1707 Puok ពួក
1709 Prasat Bakong ប្រាសាទ បាគង
1710 Siem Reab សៀមរាប
1711 Soutr Nikom សូត្រនិគម
1712 Srei Snam ស្រីស្នាម
1713 Svay Leu ស្វាយលើ
1714 Varin វារីន

Angkor Thom



Tháp mặt người tại cửa Nam, tạc hình Quán Thế Âm
Tháp mặt người tại cửa Nam, tạc hình Quán Thế Âm

Đền Bayon, Angkor Thom
Đền Bayon, Angkor Thom

Angkor Thom là thành phố thủ đô cuối cùng và lâu dài nhất của vương quốc Khmer. Thành được vua Jayavarman VII xây dựng vào cuối thể kỷ 12. Thành rộng 9 km², bên trong có nhiều đền thờ từ các thời kỳ trước cũng như các đền thời được Jayavarman và những người nối nghiệp ông xây dựng. Tại trung tâm thành là ngôi đền quốc gia của Jayavarman, đền Bayon, với các di tích khác quần tụ quanh khu quảng trường Chiến Thắng nằm ngay phía Bắc đền.

Lịch sử

Angkor Thom đã được xây dựng để làm thủ đô vương quốc của Jayavarman VII, và là trung tâm của chương trình xây dựng khổng lồ của ông. Một tấm bia được tìm thấy trong thành phố đã viết về Jayavarman như là chú rể và thành Angkor Thom như là cô dâu của ông.

Tuy nhiên, Angkor Thom không phải thủ đô đầu tiên của Khmer tại địa điểm này. Trước đó 3 thế kỷ, Yashodharapura ở gần đó về phía Tây Bắc đã là thủ đô. Angkor Thom trùm lên một phần của thành phố đó. Các đền thờ nổi tiếng nhất của thời kỳ cổ hơn nằm trong thành phố là Baphuon - ngôi đền quốc gia cũ, và Phimeanakas - ngôi đền đã được nhập vào Cung điện Hoàng gia. Người Khmer đã không phân biệt rõ ràng giữa Angkor Thom và Yashodharapura, thậm chí đến thế kỷ 14, một tấm bia vẫn còn sử dụng tên cũ. (Higham 138) Cái tên Angkor Thom — thành phố vĩ đại — đã được sử dụng từ thế kỷ 16.

Ngôi đền cuối cùng được biết là đã được xây dựng tại Angkor Thom là Mangalartha, được khánh thành năm 1295. Từ đó, các công trình thỉnh thoảng lại được sửa chữa, nhưng các công trình mới được xây dựng bằng các vật liệu dễ hỏng đã không tồn tại được đến nay. Trong các thế kỷ tiếp theo, Angkor Thom vẫn là thủ đô của vương quốc trong thời kỳ suy tàn cho đến khi nó bị bỏ hoang bắt đầu từ khoảng trước năm 1609, khi một du khách phương Tây viết về một thành phố bỏ hoang: "kỳ diệu như Atlantis của Plato" mà có người cho là đã được xây dựng bởi hoàng đế La Mã Trajan. (Higham 140)

Phong cách

Angkor Thom được xây dựng theo phong cách Bayon. Điều này thể hiện ở quy mô lớn của các công trình, trong việc sử dụng rộng rãi đá ong làm vật liệu xây dựng, trong các tháp mặt người tại các lối vào thành phố và trong hình tượng naga tại mỗi tháp.

Vị trí

Thành phố nằm trên bờ hồ Tonle Sap, cách hồ khoảng 1/4 dặm. Cổng phía Nam của Angkor Thom nằm cách thành phố Siem Reap 7,2 km về phía Bắc, cách cổng vào đến Angkor Wat 1.7 km về phía Bắc. Các bức tường thành (cao 8m, dài 3km, bên ngoài là hào nước) bao quanh một khu vực rộng 9 km². Tường thành được xây bằng đá ong với bờ công sự trên đỉnh. Tại mỗi hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, có một cổng thành. Các con đường dẫn từ các cổng thành thẳng đến đền Bayon tại trung tâm thành phố. Do bản thân Bayon không có tường hay hào của riêng mình, các nhà khảo cổ học giải thích rằng các tường và hào của thành phố đại diện cho núi và biển bao quanh Núi Meru của Bayon. (Glaize 81). Một cổng khác — Cổng Chiến Thắng — nằm cách cổng phía Đông 500 m; con đường Chiến Thắng chạy song song với con đường phía đông để dẫn tới Quảng trường Chiến Thắng và Cung điện Hoàng gia ở phía Bắc Bayon.

Một cổng thành Angkor Thom
Một cổng thành Angkor Thom

Các khuôn mặt trên các ngọn tháp cao 23 m tại các cổng thành (sau này được bổ sung vào công trình chính) giống với các khuôn mặt tại đền Bayon và đặt ra cùng một vấn đề về cách giải thích ý nghĩa. Các khuôn mặt này có thể đại diện cho chính nhà vua, Quan Thế Âm bồ tát (Avalokitesvara), các thần hộ vệ các hướng của vương quốc, hoặc một kết hợp nào đó của những vị này. Trước mặt mỗi cổng thành có một bờ đường đắp ngang qua hào nước, dọc theo mỗi bên đường có một hàng các deva, mỗi hàng nâng một naga trong tư thế kéo co. Có vẻ đây là một hình tượng về truyền thuyết Samudra manthan (khuấy Biển Sữa) - một truyền thuyết phổ biến tại Angkor. Đền-núi Bayon, hay có lẽ chính cổng thành, (Glaize 82) có thể là cái trục của sự kiện khuấy biển. Các naga có thể cũng đại diện cho sự chuyển dịch từ thế giới loài người tới thế giới của thần thánh (đền Bayon), hoặc là các thần hộ vệ. (Freeman and Jacques 76). Các cổng vào có kích thước 3,5 × 7 m và có thể đã được đóng bằng các cánh cửa gỗ. (Glaize 82) Cổng phía Nam cho đến nay là nơi được thăm viếng thường xuyên nhất, do đây là lối vào chính của khách du lịch.

Tại mỗi góc thành phố là một Prasat Chrung — điện thờ đặt tại góc — được xây dựng bằng sa thạch và để thờ Quán Thế Âm. Các điện thờ này có hình chữ thập với một tháp trung tâm và hướng về phía đông.

Bên trong thành có một hệ thống kênh đào dẫn nước chảy từ phía Đông Bắc tới phía Tây Nam. Khu đất được bao bọc bởi tường thành có thể đã là nơi xây dựng các tòa nhà thế tục của thành phố, nhưng các tòa nhà này đã không còn tồn tại. Khu vực này ngày nay được bao phủ bởi rừng cây.

Trừ đền Bayon, tất cả các di tích chính đều nằm tại phía Tây hoặc phía Đông của Quảng trường Chiến Thắng. Tính từ Nam tới Bắc, các di tích này là Baphuon, Sân voi (Terrace of the Elephants), Phimeanakas và Cung điện Hoàng gia, Sân của Vua Hủi (Terrace of the Leper King), Tep PranamPreah Palilay; ở phía Đông, Prasats Suor Prat, đền Khleang phía Nam, đền Khleang phía Bắc, và Preah Pithu.

Angkor Wat nhìn từ cổng phía tây
Angkor Wat nhìn từ cổng phía tây

Angkor Wat (hay Ăng-kor Vat), còn có tên cổ tiếng Việt là đền Đế Thiên, trong khi đó, Angkor Thom thì được gọi là đền Đế Thích, cả khu đền Angkor được gọi chung là Đế Thiên Đế Thích. Theo tiếng Khmer Angkor: thành phố, Wat: đền thờ hay chùa, là một đền thờ vị thần Visnu của Ấn Độ Giáo tại Angkor - địa điểm của các thủ đô của đế quốc Khmer. Đây là một trong các là di tích quan trọng bậc nhất tại Campuchia, được xem là tuyệt đỉnh của nghệ thuậtkiến trúc Khmer.

Nằm cách thủ đô Phnôm Pênh 240 km về hướng bắc, được xây dựng dưới thời vua Surja-warman II (1113-1150), Angkor Wat mới đầu để thờ thần Viśnu của Ấn Độ giáo. Về sau, khi vương triều Khmer theo Phật giáo, Angkor Wat trở thành linh đền thờ Phật. Sau khi kinh đô của đế quốc Khmer bị người Xiêm phá hủy và các nhà vua Khmer bỏ về Phnom Penh trong thế kỉ 15, Angkor Wat rơi vào quên lãng, bị rừng già vây phủ và được khám phá lại vào năm 1860 bởi Herri Mouhot.

 

Kiến trúc

hình tượng nữ thần nhảy múa
hình tượng nữ thần nhảy múa

Khu Angkor Wat có chu vi gần 6 km và diện tích khoảng 200 ha, nơi cao nhất là đỉnh tháp của ngôi đền chính, có độ cao 65 m. Angkor Wat là đền núi duy nhất ở Campuchia có lối vào chính ở hướng tây, hướng mặt trời lặn.

Cách bố cục này gây cảm giác ức chế cho người đi vào đền, bởi hình ảnh khu đền đồ sộ nổi bật trên ánh sáng chói lòa của mặt trời. Khu đền gồm 4 tầng nền, càng lên cao càng thu nhỏ lại, mô phỏng hình ảnh "núi vũ trụ Mêru" của người Ấn Độ. Vị thần linh được thờ ở đây là thần Viśnu. Khu đền chính bao gồm 398 gian phòng với nghệ thuật chạm khắc đá trên trần phòng, hành lang, các lan can... thể hiện sức mạnh phi thường và bàn tay điêu luyện của người Khmer cổ đại. Chính phủ Campuchia đã cho tiến hành phục chế, tu bổ khu di tích và ngày nay, quần thể này là địa điểm thu hút hàng trăm du khách từ khắp nơi trên thế giới.

Xung quanh ngôi đền, có hào rãnh bao bọc; bên ngoài bức tường có nhiều hồ chứa nước, sự thiết kế của ngôi đền này rất cân đối và xinh đẹp, có qui mô to lớn, khu vực nằm trong vòng tường, rộng tới 83610 m².

Trung tâm của thánh điện là một toà tháp cao 61m. Muốn đi tới đó phải qua mấy cửa, một bậc thềm cao và một sân rộng. Chung quanh toà tháp thấp hơn, đó là dấu hiệu đặc trưng của toàn bộ kiến trúc.

Với những phù điêu phong phú, nhiều màu sắc để trang trí, hoàn toàn tương xứng với sự thiết kế cân đối và nghiêm trang. Trên những bức phù điêu đá này, đã miêu tả những cảnh tượng trong sử thi Ấn Độ. Rất nhiều thần linh nam và nữ vui vẻ nhảy múa với nhau trong tư thế trêu chọc. Qua một hành lang phù điêu nối tiếp nhau, chạy dài đến mấy trăm thước Anh, đã thể hiện nhiều nhân vật chân thật trong lịch sử của Campuchia. Hình tượng được mọi người yêu thích và thường xuất hiện trên phù điêu, chính là vị nữ thần nhảy múa của Campuchia.

Nhận xét về ngôi đền

Đền Angkor là một thành tựu kiến trúc huy hoàng, nó thể hiện một trình độ sâu sắc về thể tích, không giansự tổ hợp kỷ hà. Thời bấy giờ, kỹ thuật phong cách kiến trúc còn hết sức giới hạn - việc sử dụng đá lại có tính chất như sử dụng gỗ; những kết cấu có hình bán nguyệt và nóc vòm, là những kỷ thuật mà ta chưa biết - những hiệu quả toàn diện của nó làm cho mọi người phải ngạc nhiên.

Chiến tranh tàn phá

Năm 1973, các nhà khảo cổ học người Pháp từng tiến hành quản lý ở đây, nhưng do chiến tranh leo thang nên bắt buộc học phải dời đi. Ngôi chùa vĩ đại này cũng như quần thể kiến trúc xung quanh trở thành nơi ẩn náu của Khmer Đỏ (gần 160km² ở đó, tồn tại khoảng 200 chùa miếu, Angkor Vat nằm giữa trung tâm của những kiến trúc đó). Hiện nay, khắp ngôi chùa này, vẫn còn lỗ chỗ những vết đạn.

Sau 20 năm bị bỏ hoang phế, công tác bảo vệ lại được bắt đầu. Nhưng mọi người vẫn lo ngại, với cách sửa chữa thô sơ, thiếu phương tiện, có thể làm cho di tích càng bị tổn hại nhiều hơn. Tình trạng chiến tranh và tình hình chính trị không ổn định đã để lại nhiều vết tích. Đối với những người mong muốn di tích Angko Wat được đối xử công bình như tất cả di tích tôn giáo và lịch sử khác, vẫn còn lo ngại rằng sự thiếu thốn tiền bạc sẽ là một vấn đề khó khăn cho những người có trách nhiệm.

Ta Prohm

Ta Prohm (Rajavihara)

Tên gọi: Ta Prohm (Rajavihara)
Người tạo nên: Jayavarman VII
Ngày xây: 1186
Vị thần ban đầu: Prajnaparamita
Kiến trúc: Khmer
Vị trí: Angkor, Campuchia



Ta Prohm là tên gọi hiện đại của một ngôi đền tại Angkor, Campuchia, được xây theo phong cách Bayon phần lớn vào cuối thế kỷ 12 và đầu thế kỷ 13, ban đầu được gọi là Rajavihara. Tọa lạc cách Angkor Thom về phía đông và nằm ở cạnh phía nam của Đông Baray gần Tonle Bati, ngôi đền này đã được thiết lập bởi vua Khmer Jayavarman VII làm một tu viện và trường học Phật giáo Đại thừa. Không giống như phần lớn đền tại Angkor, Ta Prohm đã bị bỏ quên với điều kiện như lúc mới xây: cảnh cây cối xung quanh phế tích và các khu rừng nhiệt đới bao quanh nó đã khiến nó là một trong những ngôi đền tại Angkor được du khách viếng thăm nhiều nhất.

 

Lịch sử

Đền do vua Jayavarman VII xây dựng năm 1189 dài 1 km, rộng 700 m, tốn 5 vạn lượng vàng, 5 vạn lượng bạc và nhiều đá quý. Để tưởng niệm mẫu thân là Jayarajachudanami. Ngôi mộ Mẹ trong đền, bốn bức tường bằng đá có gắn kim cương. Tương truyền những đêm trăng sáng, những hạt kim cương phản chiếu rực rỡ. Khi Jayavarman VIII lên ngôi đã hủy những hình ảnh liên quan đến Phật giáo để thờ vật linh của đạo Bà La Môn. Trong suốt nhiều năm liên tiếp, đền chịu bao thăng trầm của lịch sử, quan trọng nhất là cuộc tấn công của quân đội Miến Điện và quân đội Xiêm vào cuối thế kỷ 13. Ngôi đền bị đổ nát rất nhiều dưới sự giày xéo của quân đối phương. Đền bị đổ nát, cổ vật trong đền bị quân đội Xiêm lấy mang về nước. Quan trọng nhất là những viên kim cương tại gian chính điện đã bị cậy đi mất. Hiện nay, phía trong gian chính điện vẫn còn vết tích của nơi đặt kim cương.

Hiện nay trong đền chỉ còn lingayoni. Nơi đây còn có đền “vỗ ngực” - nghe âm thanh vọng lại khi vỗ vào ngực mình. Thuở xưa nhà vua sùng đạo Phật, thường đến nơi đây những đêm rằm để cầu nguyện khi lòng còn ấm ức.

Tình trạng

Đền Ta Prohm bị hủy hoại bởi thời gian trong chiến tranh và bị thiên nhiên hủy hoại. Cổ thụ mọc xen lẫn bờ thành, rễ xuyên phá làm đá sụp đổ. Cảnh tượng hùng vĩ nhất chính là rễ của các cây tungkơ nia ôm gọn cả ngôi đền như nuốt trọn. Cảnh đền có vẻ điêu tàn hoang phế nên đoàn phim Hollywood đã chọn nơi đây để diễn viên Angelina Joli đi tìm kho báu trong phim Bí mật ngôi mộ cổ. Đền Ta Prohm đang được Ấn Độ tài trợ tu sửa phần nào. Các rễ cây cổ thụ khổng lồ mọc trùm lên những toà tháp đổ nát khiến kiến trúc của ngôi đền càng thêm kỳ bí. Ngoài ra, đền Ta Prohm còn nổi tiếng với tên gọi Lăng mộ Hoàng hậu: nơi những cây cổ thụ vĩ đại bao phủ nhiều công trình tạo nên những hình thù cổ quái và hấp dẫn. Tại đây còn có một hành lang kỳ bí, đi bên trong nó, nếu đập nhẹ tay lên ngực sẽ nghe được tiếng đập vọng về rất mạnh qua những bức tường thành.

Phnom Bakheng

Phnom Bakheng, tháp trung tâm

Tên gọi: Phnom Bakheng, tháp trung tâm
Người tạo nên: Yasovarman
Ngày xây: được xây vào cuối thế kỷ 9
Vị thần ban đầu: Shiva
Kiến trúc: Wat
Vị trí: Angkor, Campuchia



Phnom Bakheng tại Angkor, Campuchia, là một ngọn đồi nằm giữa Angkor Wat và Angkor Thom. Đây là trung tâm của vương quốc Khmer đầu tiên ở Angkor, gọi là Yasodharapura là một ngôi đền Hindu dưới dạng một núi đền. Đền được xây để thờ thần Shiva vào cuối thế kỷ 9, trong thời kỳ trị vì của vua Yasovarman (889-910). Nằm trên đỉnh một ngọn đồi, ngày nay ngôi đền là một địa điểm du lịch phổ biến để ngắm nhìn hoàng hôn của ngôi đền Angkor Wat, một ngôi đền nằm ở giữa rừng khoảng 1,5 km về phía đông nam. [1]


Lịch sử

Ngôi đền đã bị một lần bỏ hoang vào năm 928, nhưng mãi đến năm 968 được khôi phục lại bởi Jayavaraman 5. Như vây, xét về mặt lịch sử, vua Jayavaraman 5 có vai trò rất quan trọng trong việc củng cố, kiến thiết và xây dựng thêm cho ngôi đền.

 

Miêu tả

Đền Bakheng được xem là ngôi điện thờ trung tâm của thành phố đầu tiên tại Angkor, Pnom Bakheng có tầm quan trọng rất đặc biệt mặc dù nhiều cụm tháp đã xuống cấp. Tài liệu viết lại rằng vua Yasovarman I đã đời kinh đô từ Rolus - cách Siemriep 13km về hướng Đông Nam.Tòan bộ công trình bao bọc người ta gọi là Yasodharapura, chỉ rộng 4 km ( rộng hơn 4km (rộng hơn đền Angkor sau này) và được bao phủ bởi 1 dãy tường đất. Điện thờ nằm ở khu trung tâm của ngọn đồi và rất biệt lập. Có mỗi điểm khác nhau quan trọng, Bakheng mô phỏng hình ảnh của điện thờ BakongRoluos được xây dựng khoảng 2 thập kỷ trước đó. Tháp trung tâm xung quanh có hình vuông còn tháp trung tâm có hình chóp bao bọc xung quanh là những tháp phụ bao bọc vô cùng linh thiêng.

Đền bắt đầu xây dựng vào cuối thế kỷ thứ 9, linga - vật thờ chính của tháp của tháp trung tâm được xây dựng vào năm 907, nhưng các kiến trúc tháp được tiếp tục xây dựng ngay sau đó.

Toàn bộ kiến trúc ngôi đền xây dựng trên một ngọn đồi cao .Tính từ chân đền đến đỉnh đền hình vuông 31m , và được kết nối với gần 108 tháp nhỏ. Đường lên đền trắc trở, khó đi và là một cản trở rất lớn đối với người chinh phục nó. Đường đi dốc đứng chếch gần bằng 70 độ cộng với cây dại và rừng cây bao phủ khiến cho việc chinh phục ngôi đền này không dành cho khách du lịch sợ độ cao.Đặc biệt ở đây, mỗi ngày khoảng gần 6 giờ chiều, các du khách đến tụ tập rất đông ở chân đồi Phnom Bakheng để lên đỉnh xem mặt trời lặn trên quần thể Angkor. Đa số đều muốn đi bộ, theo một ít các bậc thềm và các lối đi gập ghềnh đầy đá, rễ cây... Có nhiều đoạn phải cẩn thận vì rất nguy hiểm nếu sơ ý. Ai yếu hay sợ cực nhọc có thể dùng dịch vụ cỡi voi lên đồi. Những người yếu hay lớn tuổi thường dùng voi để lên đồi.

Truyền thuyết

Phnom Bakheng là ngọn núi thiêng của Angkor, như núi Meru thiêng liêng trong thần thoại Ấn độ giáo. Trên đỉnh Phnom Bakheng là một đền thờ đã đổ nát. Nơi đây trên mặt đất đá, các nghệ nhân Khmer xưa đã khắc xuống nền đá một bàn chân khổng lồ. Tương truyền rằng bàn chân này là của đức Phật. Một sự kiện lý thú về Phnom Bakheng là nó có tác dụng như một cái trống, phản hồi và cộng hưởng âm thanh. Ly’do là ở dưới tháp cao chính của đền có một vùng trũng tạo nên âm thanh vang dội cộng hưởng. Ngoài ra ở đấy cũng có một mộ vuông nằm sâu trong lòng đất, mộ này có duyên cơ từ câu truyện thần thoại “Mười hai cô gái Angkor”. Câu chuyện kể về một người tiều phu nghèo có 12 người con gái, một trường hợp được coi là kém may mắn. Vì ông không thể nuôi nổi gia đình, ông đã mang con vô rừng bỏ, nhưng không thành công lúc đầu. Lần thứ hai thì ông thành công, nhưng thay vì chết, 12 cô gái được bà hoàng hậu Santhomea của thế giới chằng tinh cứu. Bà Santhomea mang các cô gái về nuôi chúng như con mình. Sau này vì quá cô đơn, các cô đã bỏ trốn. Chúng đến vương quốc Angkor, tại đấy vị vua trị vì đã thương các cô và mang về làm vợ. Các cô đã sống trong hạnh phúc cho đến một ngày khi bà hoàng Santhomea tìm được tông tích của các cô. Để trả thù, bà đã mê hoặc vua và làm cho vua đuổi nhốt các cô gái vào một hố sâu trong lòng đất, sau khi đã khoét mắt các cô. Đây là lần thứ ba các cô đã bị bỏ rơi cho chết. Một trong các chị em đã dấu được một con mắt và vẫn còn có thể thấy được. Người con gái một mắt giúp tìm thức ăn cho các chị em sinh sống. Một trong các cô có mang một đứa con trai. Người con trai này lớn lên trả thù cho mẹ và các dì của mình. Anh ta đã giết được bà chằng tinh Santhomea và các chị em được trở về với nhà vua sống hạnh phúc.

 

Tình trạng

Trên đỉnh đồi du khách rất đông, tất cả đều nhìn về hướng tây nơi mặt trời sắp sửa lặn trên mặt nước biển hồ Tonlé Sap ở chân trời. Về phía tây nam là đền Angkor Wat đang tắm dưới ánh hoàng hôn vàng đỏ của mặt trời sắp lặn. Khi Mouhot khám phá ra Angkor, ông có lên đỉnh Phnom Bakheng nhìn xuống quần thể Angkor và đã mô tả như sau : “Tất cả vùng này giờ đây vắng lặng và cô quạnh, mà trước kia chắc chắn phải là sống động nhộn nhịp và vui vẻ; nay chỉ còn lại tiếng hú của các loài dã thú và các tiếng chim kêu giữa sự im lặng cô đơn mà thôi”. Mouhot chắc chắn sẽ không tưởng tượng nổi là giờ đây có đến hàng trăm du khách từ khắp năm châu đang quay phim, chụp hình và nói chuyện náo nhiệt. Tuy đường lên đỉnh khó đi và dốc đứng, thế nhưng, ngôi đền là một điểm tham quan không thể bỏ qua bởi sự ngọan mục của nó. Tuy đền Bakheng được xây dựng trước Angkor Wat. Thế nhưng như là sự tính toán trước của các kiến trúc sư tài hoa Khmer, nơi đỉnh đền Bakheng lại là nơi duy nhất có thể ngắm nhìn hòang hôn lặn xuống đền Angkor đẹp nhất và là nơi duy nhất có thể nhìn thấy một cảnh tượng đẹp nhất của Angkor đó chính là Angkor lửa. Angkor lửa là tên gọi do màu đỏ của mặt trời lặn tô điểm lên ngôi đền Angkor một màu đỏ rực của buổi hoàng hôn khiến cho ngôi đền nổi bật những đường nét một cách chi tiết nhất.Đây là nơi tham quan thích thú nhất cho du khách, và vì thế đây là ngôi đền đang bị đe dọa nhiều nhất.

 

Baksei Chamkrong

 

Baksei Chamkrong gần Angkor Thom
Baksei Chamkrong gần Angkor Thom

Baksei Chamkrong là một ngôi đền Ấn Độ giáo nhỏ thờ thần Shiva và được dùng để lưu giữ một bức hình bằng vàng của thần. Đền này nằm ở bên trái Angkor Thom tại cổng nam. Đền này được vua Harsavarman xây để tưởng nhớ người cha là Yasovarman. Ngôi đền này được hoàn thành bởi Rajendravarman II (944-968).

 

Bayon

Đền Bayon nằm ở trung tâm quần thể Angkor Thom, Campuchia. Đây là ngôi đền ấn tượng nhất của kiến trúc đền núi Campuchia do sự hùng vĩ về qui mô cũng như về cảm xúc mà nó đem lại cho người xem. Ngôi đền gồm 54 tháp lớn nhỏ, trên mỗi tháp đều có điêu khắc khuôn mặt của thần Lokesvara, hay còn gọi là thần Avalokitesvara, tượng trưng cho sự quan sát của thần linh về 4 hướng của đất nước Campuchia.

Preah Palilay

 

Picturesque trees in front of the chimney-like tower
P

 

Preah Palilay là một ngôi đền tại Angkor, Campuchia. Ngôi đền này nằm ở Angkor Thom, 400 m về phía bắc của Phimeanakas. Được xây vào thế kỷ 13 hay thế kỷ 14, đây là một ngôi đền Phật giáo (dù có một số hình chạm khắc Hindu) theo phong cách Bayon. Ngôi đền này là một tháp có hình ống khói.

 

Banteay Kdei

 

Tượng Apsara tại Banteay Kdei
Tượng Apsara tại Banteay Kdei

Banteay Kdei là một ngôi đền ở Angkor, Campuchia. Ngôi đền này tọa lạc tại đông nam Ta Prohm và đông của Angkor Thom. Được xây cuối thế kỷ 12 đến đầu thế kỷ 13. Đây là một ngôi đền Phật giáo theo phong cách Bayon, cấu trúc tương tự như Ta Prohm và Preah Khan.

 

Preah Khan

 

Preah Khan

Tên gọi: Preah Khan
Người tạo nên: Jayavarman VII
Ngày xây: 1191
Vị thần ban đầu: Avalokiteshvara
Kiến trúc: Khmer
Vị trí: Angkor, Campuchia



Preah Khan là một ngôi đền ở Angkor, Campuchia, được xây vào thế kỷ 12 cho vua Jayavarman VII. Đền này nằm ở Đông Bắc Angkor Thom và ngay phía Tây Jayatataka Baray. Preah Khan ít được du khách quan tâm bởi vị trí của nó nằm khá xa khu trung tâm Angkor. Preah Khan bị quên lãng trong khu rừng già và bị các cây cổ thụ mọc bao trùm lên. Khi khai quật khu di tích này, tổ chức quỹ bia tượng thế giới (World Monuments Fund) đã quyết định giữ toàn bộ nguyên trạng ban đầu của ngôi đền trong tình trạng đổ nát, tạo cho khu vực có ngôi đền một không khí rất cổ kính, tôn nghiêm, linh thiêng và hoang dã, gây cho du khách một cảm giác khó diễn tả.

Preah Khan cùng với Ta PromNeak Pean là một nhóm đền gần Jayatataka. Preah Khan cũng giống như BayonAngkor Thom đều là kiến trúc mang đậm kiến trúc của Phật Giáo được vua Jayavarman VII xây dựng nên. Preah Khan dùng tưởng niệm vua Jayavarman VI. Preah Khan theo tiếng Campuchia là "gươm thiêng", được chính thức xây dựng vào năm 1191 có chứa tượng vua Dhara Nindravarman II dưới dạng bồ tát Jayavarmesvara. Cũng như Bayon, đền này là đền Phật giáo nhưng khi vua Jayavarman VII mất, các vị vua sau lên ngôi đã biến nó thành ngôi đền Ấn Độ giáo. Các kiến trúc ban đầu theo kiến trúc Phật giáo được xây dựng thêm bệ thờ các thần Ấn giáo như Shiva, Vishnu. Một số điêu khắc được xây dựng trước đó là các Đức Phật bị đục bỏ, thay vào đó là các điêu khắc thêm vào là những họa tiết râu tóc và các họa tiết khác và biến thành các hiền nhân Rishi Ấn Độ.

Bức tường bảo vệ được điêu khắc tượng chim thần Garuada cầm linga cao 5m
Bức tường bảo vệ được điêu khắc tượng chim thần Garuada cầm linga cao 5m

Preah Khan rất lớn khoảng 57 hectares, được bao bọc bởi bốn lớp tường thành và một hào nước bên ngoài. Preah Khan không phải chỉ là một đền thờ mà thật ra là một thành phố nhỏ. Những ký tự tìm được ở Preah Khan có nói đến một cộng đồng hơn 90 ngàn dân sống trong vòng đai đền. chỗ ở của các thầy tu, học trò và các người chăm sóc đền chắc là ở khoảng giữa bức tường bên ngoài và bức tường thành thứ hai.

Thời thịnh trị của thành phố, ngôi đền có khi là nơi tập trung của hàng ngàn tu sĩ đến đây. Ngôi đền ngày nay mang đậm tính tâm linh bởi ngôi đền này được xem là " hồ của máu ". Do trong chiến trang, đền chứng kiến hàng ngàn cái chết của tù binh người Chàm và cái chết của vị vua Chàm. Ngoài vị thần thờ chính của ngôi đền là Lokesvaravara thì ngôi đền còn thờ đến 430 vị thần khác.

  • Preah Khan xây dựng ở phía Tây Baray và được xây dựng trên nền đất cao theo đường cấp. Kết thúc đền nằm ở hướng Tây Đông dẫn đến một hồ nước.
  • Cái hào thành bao bọc ngôi đền với chiều dài 800m và chiều rộng là 700m rộng 56 hecta. Ở phía ngoài con đường có một khoảng cách nhất định giữa khu vực điện thờ và khu vực nhà dân.
  • Tại vòng thành thứ 3 với chiều dài 200m, chiều rộng 175m được làm bằng chất liệu là đá ong với 4 tháp. Trong đó cái phía Đông là lớn nhất.
  • Mặt trong phần lớn khoảng cách giữa bức tường thành và khu điện thờ là những kiến trúc phụ với những pond (ao nhỏ).Những cái ao này có rất nhiều và chúng có kích thước khác nhau ở mỗi góc.
  • Đường đi vào Preah Khan, hai bên là hàng dài các tượng đèn đá, sau đó là qua một cầu giống như ở Angkor Thom với hai bên là các thần và quỷ ôm con rắn chín đầu. Điều này cho thấy Preah Khan trước đây là chỗ ở của hoàng gia, có thể nơi đây Jayavarman VII làm cung điện trong khi Angkor Thom đang được xây dựng. Qua cầu đá là đến cửa thành vòng ngoài, cửa thành được bảo vệ bởi các tượng chim thần Garuda to lớn. Trên cửa là tháp (gopura) rất hùng vĩ. Đi qua hai bức tường thành nữa là đến hệ thống kiến trúc đền với các điện, hành lang, phòng, đền thờ. Trong điện được gọi là “Điện người múa”, vì trên mi cửa vào là các điêu khắc vũ nữ apsara rất đẹp, thỉnh thoảng có tổ chức những điệu múa truyền thống Khmer. Giữa trung tâm Preah Khan có một tháp hình chuông (stupa) cho thấy đền Preah Khan ban đầu được xây là đền Phật giáo.
  • Bờ tường phía Đông có rất nhiều cụm tháp to nhỏ, tuy nhiên những cái này không là gì hết so với những bức tường điêu khắc và những bức tượng ở bốn góc được chia thành nhóm và chia nhỏ bởi những trục tường điêu khắc dẫn đến những điện thờ.
Đền trung tâm cao 2 tầng hình cột - đến bây giờ người ta vẫn chưa biết, đền này có vai trò gì
Đền trung tâm cao 2 tầng hình cột - đến bây giờ người ta vẫn chưa biết, đền này có vai trò gì

Cũng giống như số phận của Ta Prom và các ngôi đền trong quần thể Angkor, đền hiện đang bị xuống cấp nghiêm trọng bởi số lượng du khách đến đây.

Preah Khan rất lớn khoảng 57 hectares, được bao bọc bởi bốn lớp tường thành và một hào nước bên ngoài. Preah Khan không phải chỉ là một đền thờ mà thật ra là một thành phố nhỏ. Những ký tự tìm được ở Preah Khan có nói đến một cộng đồng hơn 90 ngàn dân sống trong vòng đai đền. Có đến 1000 thầy tu, học trò và các người chăm sóc đền sinh sống giữa bức tường bên ngoài và bức tường thành thứ hai.

Ở Preah Khan có một bệ đá khắc chữ, liệt kê các công trình kiến trúc được vua Jayavarman VII xây dựng , trong đó có 23 tượng đá gọi là Jayabudha Mahanatha được biết là có đặt ở các thành phố trong đó có Lopburi, Suphan, Ratharaburi, Phetchaburi, Muang Sing (hiện nay nằm trên lãnh thổ Thái Lan). Tên tượng cho phép ta đoán là các tượng này tượng trưng cho nhà vua.

Bia đá khắc ở Preah Khan cũng có nói đến 121 nhà nghỉ mà nhà vua xây dọc đường trên vương quốc. Các nhà nghỉ chân này vẫn còn tồn tại một thế kỷ sau vì Châu Đạt Quan đã viết về chúng trong chuyến lưu hành ở Angkor của ông như sau “Trên những đường lộ chính, có các nhà nghỉ tương tự như các nhà nghỉ đưa thư tín của chúng ta”. Ngoài ra nhà vua còn cho xây 102 bệnh viện khắp trên vương quốc mà hiện nay vị trí của 32 bệnh viện này đã được xác định.

 

Neak Pean

 

The central pond at Neak Pean
The central pond at Neak Pean

Neak Pean ("con rắn quấn") tại Angkor, Campuchia là một hòn đảo nhân tạo với một chùa trên một đảo hình tròn ở Preah Khan Baray được xây trong thời kỳ trị vì của vua Jayavarman VII. Nó là "Mebon" của Preah Khan baray (the "Jayatataka" of the inscription)[1]

Từ nguyên

Tên gọi của nó được lấy từ các điêu khắc rắn (Naga) chạy từ nền của cấu trúc đền.

 

Phnom Krom

 

Đền Phnom Krom
Đền Phnom Krom

Phnom Krom là một ngôi đền nằm trên đỉnh đồi ở Angkor, Campuchia. Ngôi đền này được xây cuối thế kỷ 9 dưới thời vua Yasovarman (889-910). Đền Phnom Krom cách Xiêm Riệp 12 km về phía tây nam, là một ngôi đền giành cho việc thờ thần các Hindu Shiva, VishnuBrahma.

Ngôi đền nhìn về hướng đông và có tường bao xây bằng đá ong.

Phnom Krom là ngôi đền cực nam trong 3 ngôi đền trên đỉnh đồi được xây ở khu vực Angkor trong thời kỳ trị vì của Yasovarman. Hai ngôi đền kia là Phnom BakhengPhnom Bok.

Ngọn đồi nơi Phnom Krom đứng trên đỉnh có nhiều đá; huyền thoại địa phương cho rằng các phiến đá đã được tướng khỉ Hanuman phơi ra trong cuộc săn lùng thuốc trong sử thi Ramayana. Khu vực ngoài cổng tây của ngôi đền cho du khách một tầm nhìn ngoạn mục hồ Tonle Sap.

 

Lolei

 

Đền Lolei tại Angkor, Campuchia
Đền Lolei tại Angkor, Campuchia

Lolei là ngôi đền cực bắc của nhóm Roluos tại Angkor, Campuchia. Nó được xây vào cuối thế kỷ 9 dưới thời vua Yasovarman I. Đây là một ngôi đền trên đảo, nằm hơi chếch về phía bắc của trung tâm baray Indratataka, mà việc xây dựng baray này hầu như đã hoàn tất dưới thời vua trước đó, Indravarman I. Baray này hiện đang khô ráo.

Banteay Srei

 

Banteay Srei

Tên gọi: Banteay Srei


Ngày xây: 967
Vị thần ban đầu: Siva
Kiến trúc: Khmer
Vị trí: Angkor, Cambodia



Banteay Srei (hay Banteay Srey) là một ngôi đền Campuchia được xây để thờ thần HinduShiva. Ngôi đền này tọa lạc tại khu vực Angkor ở Campuchia, tại tọa độ 13,59 độ vĩ bắc, 103,96667 độ kinh đông, ngôi đền này nằm gần đồi Phnom Dei, cách 25 km (15 dặm) về phía đông bắc của nhóm các đền đã từng thuộc về các kinh đô cổ đại của YasodharapuraAngkor Thom[1]. Banteay Srei được xây chủ yếu bằng đá sa thạch đỏ, một chất pha màu được thêm vào những bức điêu khắc trang trí tỉ mỉ trên tường mà ngày nay vẫn còn được nhìn thấy. Những công trình này là một vật thu nhỏ khi lấy các công trình Ankor làm tiêu chuẩn. Những yếu tố này giúp cho ngôi đền nổi tiếng với du khác, và được nhắc đến với các tên "viên ngọc quý", hoặc "trang sức của nghệ thuật Khmer"[2].

Trang trí thần Shiva trên các bức tường Banteay Srei
Trang trí thần Shiva trên các bức tường Banteay Srei

 

Mô tả đền

Tổng quan

Nghệ thuật điêu khắc trên đá sa thạch đỏ trên khắp các bức tường của Banteay Srei
Nghệ thuật điêu khắc trên đá sa thạch đỏ trên khắp các bức tường của Banteay Srei

Ngôi đền là là bức tranh tuyệt tác về nghệ thuật điêu khắc trên đá ongsa thạch đỏ.Bản thân ngôi đền được xem là tuyệt đỉnh của nghệ thuật trên đá với những bức phù điêu hoa văn một cách tinh tế và khéo léo từng chi tiết nhỏ. Ngôi đền ban đầu thờ thần Shiva, trong khi đó ngôi đền phía Bắc lại thờ thần Vishnu.

Trang trí mặt trước của đền thờ khu trung tâm Banteay Srei
Trang trí mặt trước của đền thờ khu trung tâm Banteay Srei

Đầu tiên ngôi đền này có tên là : Tribhuvanamahesvara - nơi đây được xem là trung tâm hình ảnh của tôn giáo. Bao bọc xung quanh ngôi đền có rất nhiều tháp mà người ta gọi là Isvarapura.

Về sau, tên gọi của ngôi đền mới được sửa lại là Banteay Srei. Tuy nhiên, so với việc xây dựng từ ban đầu, nó được chính thức xây dựng và mở rộng lại vào thế kỷ thứ 8, mãi đến những năm sau đó, các họa tiết trong đền mới được điêu khắc vào thế kỷ thứ 12 và ngôi đền chính thức hoàn thành trọn vẹn vào thế kỷ 14.

Chi tiết

Đường đi đến Banteay Srei rất tốt, được cải tiến rất nhiều so với mấy năm trước đây. Hai bên đường là các hàng cây được trồng và tân trang lại.Những ngôi nhà dân sinh sống trong khu vực ngôi đền trước đây được chính quyền Siêmriep mua lại và mở rộng khu di tích.

"Banteay Srei" (Citadel of Women)-ngôi đền của phụ nữ vào thế kỷ thứ 10 hay còn gọi là "Tribhuvanamahesvara"
"Banteay Srei" (Citadel of Women)-ngôi đền của phụ nữ vào thế kỷ thứ 10 hay còn gọi là "Tribhuvanamahesvara"

Đền Banteay Srei là tuyệt tác của nghệ thuật tôn giáo Balamon Ấn Độ. Đền gồm ba lớp, qua cầu đá đi vào cổng đền là vòng ngoài, đến cầu đá thứ hai qua hào nước (nay không còn) là cổng vào vòng giữa và cuối cùng là vòng trong gồm các đền thờ và hai toà kiến trúc gọi là “thư viện”. Trước ảnh (mandapa) nối với trung tâm đền là các tượng người bảo vệ đền. Các tượng này thật ra chỉ là tượng sao bản, tượng cổ nguyên thủy hiện nay được giữ bảo quản ở Viện bảo tàng quốc gia ở Phnom Penh. Trên mi cửa (lintel) ở cửa hành lang điện sảnh là những điêu khắc tỉ mỉ chi li tuyệt tác. Có nhiều hoa văn trên đá như hoa lá, các con Phật sư hay những con sư tử và các vị thần linh được điêu khắc một cách tinh xảo đến từng chi tiết nhỏ nhất. Trên sân nhỏ giữa đền ở vòng trong có ba đền thờ: kiến trúc đền thờ phía Bắc thờ thần Vishnu, đền trung tâm và đền phía Nam thờ thần Shiva.

 

Tình trạng

Ngôi đền chính thức bị quên lãng sau nhiều thập kỷ liên tiếp cùng chung số phận với hơn 45 cụm di tích khác trong quần thể Angkor. Sau đó ngôi đền chính thức được phát hiện vào năm 1914 bởi các nhà khảo cổ người Pháp.

Banteay Srei biết đến là một trong những ngôi đền có nghệ thuật điêu khắc tinh vi . Trong ảnh là bức tranh "kala" , con vật cởi thần thọai linh thiêng của thần Shiva đại diện cho thời gian và vàng bạc được các nhà điêu khắc tài ba Khmer chạm trổ đến từng chi tiết nhỏ nhất
Banteay Srei biết đến là một trong những ngôi đền có nghệ thuật điêu khắc tinh vi . Trong ảnh là bức tranh "kala" , con vật cởi thần thọai linh thiêng của thần Shiva đại diện cho thời gian và vàng bạc được các nhà điêu khắc tài ba Khmer chạm trổ đến từng chi tiết nhỏ nhất

Năm 1923, một nhà văn Pháp trẻ 22 tuổi André Malraux cùng vợ tên là Clara và người bạn thời thơ ấu đã đục lấy đi các tượng tổng cộng hơn 600 ký, chở đi trên ba xe bò, và sau đó dùng tàu thủy đến Phnom Penh để bán cho người mua mà họ đã thương lượng trước đó. Nhưng may thay, tại đấy, cả ba bị bắt và bị kết án ba năm tù. Bản án tuy vậy không được thực thi nhưng vụ án này đã được phổ biến rộng rãi trên báo chí và từ đó thúc dục nhà cầm quyền thực thi vai trò quan trọng của sự bảo tồn và bảo vệ những kiến trúc quí giá ở Angkor. Phương pháp phục hồi (analystolosis) bắt đầu được dùng đầu tiên bởi nhà khảo cổ Marchal ở đền Banteay Srei để phục hồi những chỗ bị hư hại. Nhà văn Vương Hồng Sển khi viếng Banteay Srei vào năm 1940, thấy đền hầu như nguyên vẹn sau khi được phục hồi, lúc đó còn ở giữa rừng hoang.

 

Prasat Preah Vihear

 

Pediment showing Krishna fighting Arjuna, gopura three
Pediment showing Krishna fighting Arjuna, gopura three

Prasat Preah Vihear (tiếng Khmer: Prasat Preah Vihear) là một ngôi đền (angkor) toạ lạc trên một chỏm núi thuộc núi DângrêkCampuchia, dọc theo biên giới Thái Lan. Ngôi đền này được lấy làm tên cho tỉnh Preah Vihear, nơi nó toạ lạc.

Lịch sử

Ngôi đền đầu tiên được bắt đầu vào đầu thế kỷ 9 dùng để thờ thần Shiva trong những thế kỷ tiếp theo. Các di vật được tìm thấy ở tỉnh này cho thấy khu vực này là khu định cư quan trọng của đế quốc Khmer trong thế kỷ 12. Những phần còn sót lại sớm nhất lại có niên đại thời Koh Ker vào thế kỷ 10 khi kinh đô của Đế quốc Khmer gần hơn so với khi nó ở Angkor. Có một số yếu tố thuộc phong cách Banteay Srei cuối thế kỷ 10, nhưng phần lớn ngôi đền được lập dưới thời các vua Suryavarman ISuryavarman II trong các nửa đầu thế kỷ 11 và 12.

Do ngôi đền nằm gần biên giới Campuchia và Thái Lan nên khu vực này bị tranh chấp cho đến 15 tháng 6 năm 1962, khi Tòa án Quốc tế vì Công lý (International Court of Justice) phán quyết rằng ngôi đền thuộc Campuchia. Ngôi đền đã mở cửa trong một thời gian ngắn cho công chúng năm 1982 và năm sau bị Khmer Đỏ chiếm đóng. Ngôi đền được mở cửa lại vào cuối năm 1998 và Campuchia hoàn tất việc xây dựng năm 2003 sau một quãng thời gian dài.

 

Lào

 

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là một quốc gia có đất liền bao quanh tại vùng Đông Nam Á. Lào giáp giới nước MyanmaTrung Quốc phía tây bắc, Việt Nam ở phía đông, Campuchia ở phía nam, và Thái Lan ở phía tây. Lào còn được gọi là "đất nước Triệu Voi" hay Vạn Tượng; ngôn ngữ của nước này là tiếng Lào. Trước đây Lào còn có tên là Ai Lao (chữ Hán: 哀牢).

ສາທາລະນະລັດປະຊາທິປະໄຕ ປະຊາຊົນລາວ
Sathalanalat Paxathipatai Paxaxon Lao
Quốc kỳ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Quốc huy Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Quốc kỳ Quốc huy
Khẩu hiệu
"Hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng"
Quốc ca
Pheng Xat Lao
Vị trí của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Thủ đô Viêng Chăn (Vạn Tượng)
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Lào
Chính phủ Xã hội chủ nghĩa, một đảng
 -   • Chủ tịch nước
 • Thủ tướng
Choummali Saignason
Bouasone Bouphavanh
Độc lập
 -   • Từ Pháp

 • Tuyên bố
 • Công nhận
 
Diện tích
 -  Tổng số 236,800 km² (hạng 79)
 -  Nước (%) 2%
Dân số
 -  Điều tra 2002 5.635.967 
 -  Mật độ 24 /km² (hạng 101)
GDP (PPP) Ước tính 
 -  Tổng số tỉ Mỹ kim 
 -  Theo đầu người Mỹ kim 
Đơn vị tiền tệ Kíp (LAK)
Múi giờ ĐNÁ (UTC+7)
 -  Mùa hè (DST) ĐNÁ (UTC+7)
Tên miền Internet .la
Mã số điện thoại +856
 

 

Lịch sử

Bài chính: Lịch sử nước Lào

Lịch sử của Lào trước thế kỷ 14 gắn liền với sự thống trị của vương quốc Nam Chiếu (南詔). Vào thế kỷ 14, vua Phà Ngùm (Fa Ngum) lên ngôi đổi tên nước thành Lan Xang (Vạn Tượng). Trong nhiều thế kỉ tiếp theo, Lào nhiều lần phải chống các cuộc xâm lược của Việt Nam, Miến ĐiệnXiêm. Đến thế kỷ 18, Thái Lan giành quyền kiểm soát trên một số công quốc còn lại. Các lãnh thổ này nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Pháp trong thế kỷ 19 và bị sáp nhập vào Liên bang Đông Dương vào năm 1893. Trong Thế chiến thứ hai, Pháp bị Nhật thay chân ở Đông Dương. Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, ngày 12 tháng 10 năm 1945, Lào tuyên bố độc lập. Đầu năm 1946, Pháp quay trở lại xâm lược Lào. Năm 1949 quốc gia này nằm dưới sự lãnh đạo của vua Sisavang Vong và mang tên Vương quốc Lào. Tháng 7 năm 1954, Pháp ký Hiệp ước Genève, công nhận nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Lào.

Từ 1955 đến 1975, Vương quốc Lào ủng hộ mạnh mẽ Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống lại sức bành trướng của phe Cộng sản tại Đông Dương. Tình trạng bất ổn về chính trị tại Việt Nam cũng đã lôi kéo Lào vào cuộc Chiến tranh Đông Dương lần hai (Xem thêm Chiến tranh bí mật) và là yếu tố dẫn đến nội chiến và một vài cuộc đảo chính. Từ năm 1968 Bắc Việt đã gởi các đơn vị của họ tham chiến cùng quân Pathet chống lại Quân đội Lào. Năm 1975 phong trào cộng sản Pathet Lào đã lật đổ chính quyền hoàng tộc của vua Savang Vatthana và nắm quyền lãnh đạo đất nước này. Ngày 2 tháng 12 năm 1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Lào quyết định xoá bỏ chế độ quân chủ, thành lập nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào. Ngày này cũng được lấy làm ngày quốc khánh của Lào.

Lào là thành viên Liên Hiệp Quốc từ ngày 14 tháng 12 năm 1955 (lưu ý:chính phủ Lào này không phải là lực lượng Pathet mà là chính phủ Vương quốc Lào). Quan hệ ngoại giao với Bắc Việt Nam cấp đại sứ được thiết lập từ ngày 6 tháng 9 năm 1962.

Những năm cuối thập niên 1980, Lào thực hiện chính sách nới lỏng kiểm soát kinh tế. Năm 1997 quốc gia này gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Hiện nay quan hệ với Việt Nam vẫn là cơ bản trong chính sách đối ngoại của Lào.

Chính trị

Bài chính: Chính trị nước Lào

Chính đảng duy nhất là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (ĐNDCM Lào). Người đứng đầu nhà nước là Chủ tịch nước được Quốc hội cử ra có nhiệm kỳ 5 năm. Người đứng đầu chính phủ là Thủ tướng. Chính phủ được Chủ tịch nước đề cử và Quốc hội thông qua. Đường lối chính sách của chính phủ do Đảng lãnh đạo thông qua 9 ủy viên Bộ Chính trị và 49 ủy viên Trung ương đảng. Các quyết sách quan trọng của chính phủ do Hội đồng bộ trưởng biểu quyết thông qua.

Lào thông qua hiến pháp mới năm 1991. Trong năm sau đó đã diễn ra bầu cử Quốc hội với 85 đại biểu. Các thành viên quốc hội được bầu bằng bỏ phiếu kín. Quốc hội do cuộc bầu cử năm 1997 tăng lên thành 99 đại biểu đã thông qua các đạo luật mới mặc dù cơ quan hành pháp vẫn giữ quyền phát hành các sắc lệnh liên quan. Cuộc bầu cử gần đây nhất diễn ra tháng 2 năm 2002 với 109 đại biểu.

Các tỉnh

Bài chính: Các tỉnh của Lào
Bản đồ Lào
Bản đồ Lào

Lào được chia thành 16 tỉnh (khoueng), 1 thành phố trung ương* (kampheng nakhon), và 1 khu đặc biệt** (khetphiset):

Các thành phố

Attopeu, Ban Houayxay, Bounneua, Hat Dokeo, Luang Namtha, Luang Prabang, Nam Thane, Napheng, Oudomxay, Paklay, Pakse, Paksong, Phongsali, Phonhong, Phonsavan, Saravane, Savannakhet, Sayaboury, Seno, Thakhek, Thangone, Vang Vieng, Viengsay, Vientiane.

Địa lý

Bài chính: Địa lý Lào

Lào là một đất nuớc không có biển ở Đông Nam Á với những cánh rừng rậm rạp bao phủ các khu vực núi đồi lởm chởm. Đỉnh cao nhất là Phou Bia cao 2.817 m với một số đồng bằng và cao nguyên. Sông Mê Kông chảy qua phần lớn biên giới phía tây với Thái Lan, trong khi đó dãy Trường Sơn chạy dọc theo biên giới phía đông với Việt Nam.

Khí hậu trong khu vực là khí hậu nhiệt đới với đặc trưng là có mùa mưamùa khô trong đó mùa mưa diễn ra hàng năm từ tháng 5 đến tháng 11, tiếp theo đó là mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Thủ đô và thành phố lớn nhất của Lào là Viêng Chăn, các thành phố lớn khác là: Louang Phrabang, SavannakhetPakse.

Lào cũng là quốc gia có nhiều loài động vật quí hiếm trên thế giới sinh sống, nổi bật nhất là hổ, voibò tót khổng lồ. Rất nhiều loài đang đứng trước hiểm họa diệt chủng do nạn săn trộm và phá rừng.

Kinh tế

Bài chính: Kinh tế Lào
Phong cảnh Văng Viêng
Phong cảnh Văng Viêng

Lào - một trong số ít các nước cộng sản còn lại - đã bắt đầu dỡ bỏ việc kiểm soát tập trung hóa và tăng cường phát triển doanh nghiệp tư nhân vào năm 1986. Kết quả từ một xuất phát điểm thấp là rất ấn tượng. Tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 7% trong các năm 1988-2001 ngoại trừ một khoảng thời gian tụt xuống do cuộc khủng hoảng tài chính châu Á bắt đầu năm 1997.

Mặc dù tốc độ tăng trưởng cao nhưng Lào vẫn còn là một đất nước với cơ sở hạ tầng lạc hậu. Tại đây không có đường sắt, hệ thống đường bộ mặc dù đã được cải tạo nhưng vẫn đi lại khó khăn, hệ thống liên lạc viễn thông trong nước và quốc tế còn giới hạn, điện sinh hoạt chỉ mới có ở một số khu vực đô thị.

Sản phẩm nông nghiệp chiếm khoảng một nửa tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và sử dụng 80% lực lượng lao động. Nền kinh tế vẫn tiếp tục nhận được sự trợ giúp của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và các nguồn quốc tế khác cũng như từ đầu tư nước ngoài trong chế biến sản phẩm nông nghiệp và khai khoáng.

Dân cư

Bài chính: Dân số Lào

Khoảng 60% dân cư là dân tộc Lào theo nghĩa hẹp, nhóm cư dân thống lĩnh trong chính trị, văn hóa sinh sống ở các khu vực đất thấp. Dân tộc Lào bắt nguồn từ người Thái di cư từ Trung Quốc xuống phía nam khoảng thiên niên kỷ 1 trước công nguyên. 8% dân cư thuộc các sắc tộc khác ở vùng đất thấp cùng với người Lào được gọi chung là Lào Lùm.

Các dân tộc sinh sống ở vùng cao là người H'Mông (Mèo), Dao (Yao hay Miền), Thái đen, Shan và một ít người gốc Tây Tạng-Miến Điện, sống tại các khu vực cô lập của Lào. Các bộ lạc vùng cao với một di sản ngôn ngữ sắc tộc hỗn hợp ở phía bắc của Lào. Một cách tổng quát họ được biết đến như là người Lào Sủng hay người Lào vùng cao.

Các vùng núi ở trung tâm và miền nam là nơi sinh sống của các bộ lạc thuộc sắc tộc Môn-Khmer, được biết đến như là người Lao Thơng. Có một ít người là gốc Việt Nam, chủ yếu ở các thành thị, nhưng nhiều người đã rời khỏi đây sau khi Lào giành độc lập cuối những năm thập niên 1940 và sau 1975.

Thuật ngữ Lào không nhất thiết phải chỉ đến ngôn ngữ, dân tộc Lào hay tập quán của người Lào mà nó bao hàm ý nghĩa chính trị nhiều hơn. Nó có thể bao hàm cả các sắc tộc không phải là người Lào gốc nhưng đang sinh sống ở Lào và là công dân Lào. Tương tự như vậy từ "Lào" có thể chỉ đến những người hay ngôn ngữ, văn hóa và ẩm thực của những người thuộc sắc tộc Lào đang sinh sống ở vùng Đông Bắc Thái Lan (Isan).

Tôn giáo chính là Phật giáo nguyên thuỷ, cùng với những điểm chung của thờ cúng linh vật trong các bộ lạc miền núi là sự cùng tồn tại một cách hòa bình của thờ cúng tinh thần. Có một số ít người theo đạo Kitôđạo Hồi.

Ngôn ngữ chính thức và chi phối là tiếng Lào, một kiểu phát âm của Nhóm ngôn ngữ Thái. Người Lào vùng trung và cao nguyên nói tiếng của bộ lạc mình.

Văn hoá

Bài chính: Văn hoá Lào

Âm nhạc của Lào chịu ảnh hưởng lớn của các nhạc cụ dân tộc như khèn (một dạng của ống tre. Một dàn nhạc (mor lam) điển hình bao gồm người thổi khèn (mor khaen) cùng với biểu diễn múa bởi nghệ sĩ khác. Múa Lăm vông (Lam saravane) là thể loại phổ biến nhất của âm nhạc Lào, những người Lào ở Thái Lan đã phát triển và phổ biến rộng rãi trên thế giới gọi là mor lam sing.

Một di tích của nền văn hóa Lào còn lại đến ngày nay là Cánh đồng Chum.

Thông tin đại chúng

Tất cả báo chí đều được phát hành bởi chính quyền, kể cả hai tờ báo tiếng nước ngoài là tờ Thời báo Vientiane bằng tiếng Anh và tờ Le Renovateur bằng tiếng Pháp.

 

<< new text >>

Luang Prabang



Vị trí thành phố
Vị trí thành phố

Luang Prabang, hay Louangphrabang, là một thành phố tại Lào; trước kia nó từng là kinh đô của một vương quốc tên Lan Xang ("vương quốc triệu voi") từ thế kỉ 14 đến năm 1946. Thành phố Luang Prabang nằm ở phía bắc miền trung Lào, bên sông Cửu Long cách Viêng Chăn 425 km về phía Bắc. Dân số của thành phố này khoảng 22.000 người.

Cho tới khi lực lượng cộng sản tiếp quản thành phố này năm 1975, nó từng là thủ đô hoàng gia, trung tâm của Vương quốc Lào. Ngày nay nó là một Di sản thế giới của UNESCO. Thành phố là trung tâm hành chính của tỉnh Louangphabang.

 

Lịch sử

Mường Xua là tên cũ của Luang Prabang sau khi nó bị một thủ lĩnh người TháiKhun Lo chinh phục năm 698, lợi dụng cơ hội khi Nam Chiếu đang dẫn quân đi chiến đấu ở nơi khác. Khun Lo được cha mình là Khun Borom ban tặng thành phố đó. Khun Borom gắn liền với truyền thuyết Lào về việc thành lập thế giới, truyền thuyết chung của dân tộc Lào cùng với người Shan và các dân tộc khác trong vùng. Khun Lo đã lập ra một triều đại với mười lăm đời vua nối tiếp nhau cai trị vùng Mường Xua độc lập và là một giai đoạn yên ổn kéo dài một thế kỷ.

Cung điện hoàng gia cũ tại Luang Prabang, hiện nay là bảo tàng
Cung điện hoàng gia cũ tại Luang Prabang, hiện nay là bảo tàng

Nửa cuối thế kỷ 8, Nam Chiếu thường can thiệp vào công việc của các công quốc vùng trung châu thổ sông Cửu Long, dẫn tới việc chiếm Mường Xua năm 709. Các hoàng tử ở Nam Chiếu hay những vị quan cai trị đã thay thế các lãnh chúa quý tộc người Thái. Thời gian của cuộc chiếm đóng này hiện chưa được biết, nhưng có lẽ nó đã kết thúc trước khi diễn ra cuộc Bắc tiến của Đế quốc Khmer dưới thời vua Indravarman I (khoảng 877-89) và kéo dài tới tận các vùng lãnh thổ của Sipsong Panna ở thượng lưu sông Cửu Long.

Cùng lúc ấy, người Khmer thành lập một tiền đồn ở Xay Fong gần Viêng Chăn, và Chămpa kéo dài tới tận miền Nam nước Lào, tiếp tục hiễn diện trên hai bờ sông Cửu Long đến tận năm 1070. Chanthaphanit, vị quan địa phương cai trị Xay Fong, di chuyển về phía Bắc đến Mường Xua và được chấp nhận một cách hòa bình làm người cai trị ở đó sau khi các vị quan của Nam Chiếu rút đi. Chanthaphanit và con trai có thời gian cầm quyền rất lâu, trong giai đoạn đó vùng này bắt đầu được gọi theo cái tên bằng tiếng TháiXieng Dong Xieng Thong. Cuối cùng triều đình này tham dự vào cuộc xung đột giữa một số công quốc. Khun Chuang, một vị cai trị hiếu chiến có thể từng là một người Kammu (những cách đánh vần khác gồm Khamu và Khmu), đã mở rộng lãnh thổ của mình sau khi chiến đấu với các công quốc khác và có thể đã cai trị trong khoảng từ 1128 đến 1169. Dưới thời Khun Chuang, một dòng họ duy nhất đã cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn và tái lập hệ thống hành chính kiểu Xiêm từ thế kỷ thứ 7. Ở một số khía cạnh, Phật giáo tiểu thừa đã bị gộp vào Phật giáo đại thừa.

Đền Vat Xieng Thong
Đền Vat Xieng Thong

Xieng Dong Xieng Thong đã trải qua một giai đoạn ngắn dưới quyền bá chủ của người Khmer thời Jayavarman VII từ 1185 đến 1191. Tới năm 1180 Sipsong Panna đã giành lại được độc lập từ Khmer, tuy nhiên năm 1238 một cuộc nổi dậy từ bên trong tiền đồn của Khmer tại Sukhodaya đã dẫn tới việc trục xuất các lãnh chúa Khmer.

Năm 1353 Xieng Dong Xieng Thong trở thành thủ đô của Lan Xang. Năm 1560 Vua Setthathirath I di chuyển thủ đô tới Viêng Chăn, hiện nay vẫn là thủ đô của Lào.

Năm 1707, Lan Xang tan rã và Luang Prabang trở thành thủ đô của Vương quốc Luang Prabang độc lập. Khi Pháp sáp nhập Lào, Pháp công nhận Luang Prabang là nơi cư ngụ hoàng gia của Lào. Cuối cùng, vị vua cai trị Luang Prabang trở thành đồng nghĩa với nguyên thủ quốc gia của Nhà nước bảo hộ Lào thuộc Pháp. Khi Lào giành lại độc lập, vua Luang Prabang, Sisavang Vong, trở thành lãnh đạo quốc gia của Vương quốc Lào.

Các triều đại tại Luang Prabang

  • Khun Lo, vị lãnh chúa đã lập ra thành phố
  • Fa Ngum, hoàng tử Luang Prabang người lập ra Lan Xang
  • Oun Kham, nhà vua cai trị dưới thời Pháp
  • Kham Souk (Zakarine), nhà vua cai trị thời Pháp và có tư tưởng độc lập
  • Sisavang Vong, nhà vua thời Pháp, và khi Pháp trao lại độc lập cho Lào, đã trở thành vua của toàn bộ vương quốc

Thắng cảnh

Luangphabang nhìn từ hữu ngạn sông Cửu Long (hình toàn cảnh)
Luangphabang nhìn từ hữu ngạn sông Cửu Long (hình toàn cảnh)

Vận tải

Luang Prabang có Sân bay quốc tế Luang Prabang với đường bay thẳng tới

Luang Prabang có đường bộ nối tới:

Sông Cửu Long là một đường nối vận tải quan trọng. Có thể đi tới Huay Xai, phía thượng nguồn gần biên giới Thái Lan, bằng tàu thủy chậm trong hai ngày, với một điểm dừng tại Pak Beng.

 

Pakse


Bridge over the Mekong
Bridge over the Mekong

Pakse (tiếng Pháp: Paksé), dân số 70.000, là một thành phố miền nam của Lào, tọa lạc tại hợp lưu của hai con sông sông Xedonesông Mê Kông. Đây là thành phố lớn nhất của tỉnh Champasak và là cửa ngõ vào Cao nguyên Bolovens. Trước đây, thành phố này là kinh đô của Vương quốc Champasak, bị hủy bỏ năm 1946 khi Vương quốc Lào được thành lập. Kể từ khi có cây cầu bắc qua sông Mê Kông (do Nhật Bản viện trợ) nối liền với tỉnh Ubon Ratchathani của Thái Lan, Pakse đã trở thành một trung tâm thương mại của Lào.

 

Ban Houayxay

Ban Houayxay (tiếng Lào: ຫ້ວຍຊາຍ), cũng gọi là Huay Xai, là thị xã tỉnh lỵ của tỉnh Bokeo của Lào. Thị xã này nằm bên dòng sông Mê Kông, đối diện với Chiang Khong của Thái Lan, là đường biên giới cực bắc của hai nước. Hai thị xã này được nối bằng phà. Houayxay là điểm cuối của quốc lộ 3 (đang xây dựng) nối Boten của Vân NamLuang Namtha với Thái Lan.

Houayxai có sân bay nội địa có các chuyến bay đến Viêng ChănLuang Prabang (phụ thuộc vào mùa). Phương tiện phổ biến nhất là thuyền, phà xuối dòng Mê Kông đến Pakbeng, Luang Prabang và các nơi khác

 

Phôn Sa Vẳn

Trung tâm của quận trung tâm hành chính của Phonsavan
Trung tâm của quận trung tâm hành chính của Phonsavan

Phôn Xa Vẳn (Phonsavan) là một thành phố của Lào, dân số 57.000 người, và là tỉnh lỵ tỉnh Xiêng Khoảng. Thành phố được xây vào thập niên 1970 do tỉnh lỵ cũ của Xiêng Khoảng bị phá hủy nặng nề do cuộc chiến giữa quân đội Pathet LàoQuân đội Hoa Kỳ giúp những phe chống cộng sản ở Lào. Địa điểm du lịch nổi tiếng nhất của thành phố này là Cánh đồng Chum gần bên với những cái chum đá nặng từ 600 kg đến 1 tấn.

 

Savannakhet (thành phố)

Trung tâm thương mại của Savannakhet
Trung tâm thương mại của Savannakhet

Savannakhet (dân số: 120.000 người) là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Savannakhet của Lào. Tên gọi Savannakhet xuất phát từ các từ Savanh Nakhone, có nghĩa là "Thành phố thiên đường", tên ban đầu của thành phố này. Savannakhet là thành phố lớn thứ 2 của Lào, sau thủ đô Viêng Chăn. Dù khu phố thời thuộc địa Pháp dọc theo sông Mê Kông xuống cấp, vị trí của thành phố này gần nền kinh tế đang phát triển nhanh của Thái Lan đã mang đến sự phát triển thương mại ở phía bắc thành phố này.

Giống như các thành phố khác của Lào, Savannakhet có cơ cấu dân số đa dạng gồm người Thái, người Việt, người Hoa và một số dân tộc thiểu số khác của Lào. Thành phố này có ngôi chùa lớn xây từ thế kỷ 15Wat Sainyaphum, một ngôi đền của người Hoa, một nhà thờ Công giáo và một nhà thờ Hồi giáo. Năm 2005, một cây cầu vượt sông Mê Kông đã được khởi công xây dựng nối thành phố này với Mukdahan của Thái Lan.

 

Vang Vieng


Sông Nam Song tại thị xã Vang Vieng
Sông Nam Song tại thị xã Vang Vieng

Vang Vieng là một thị xã tại tỉnh Vientiane của Lào với dân số khoảng 25.000 người. Thị xã này có một đường băng sân bay lâu ngày hầu như không sử dụng, nằm song song với con sông Nam Song. Sân bay này dùng cho các máy bay Air Americatrong Chiến tranh Việt Nam. Thị xã này bắt đầu phát triển từ thập niên 1980 do lượng khách du lịch ba lô (tiếng Anh: backpackers) đến đây. Thị xã nằn bên tuyến quốc lộ chính từ Luang Prabang đến Viêng Chăn.

Vang Vieng ngày nay là một thị xã của du khách ba lô, với nhiều cơ sở khách sạn, nhà hàng, hãng lữ hành phụ vụ cho đối tượng khách du lịch này. Chợ Vang Vieng có bán các loại thịt dơi, sóc, khỉ, và thịt chuột. Trong thị xã có một ngôi chùa. Những điểm thu hút khách là các núi đá vôi, hang động, trong đó thú vị nhất là động Tham Phu Kham gần Vieng Vang.

 

Viêng Chăn

Đền Pha That Luang, một trong những địa điểm quan trọng nhất tại Viêng Chăn, Lào
Đền Pha That Luang, một trong những địa điểm quan trọng nhất tại Viêng Chăn, Lào
Pha That Luang
Pha That Luang

Pha That Luang (Paa T-had Lu-uang) hay Thạt Luồng (Đại Stupa trong tiếng Lào) là một stupa Phật giáoViêng Chăn, Lào. Ngôi chùa này được xây vào thế kỷ 16 dưới thời vua Setthathirat trên một phế tích củt một ngôi đền Khmer thế kỷ 13. Bên ngoài ngôi chùa được dát vàng.

Pha That Luang đã bị phá hủy trong cuộc xâm lược của người Thái vào thế kỷ 19 nhưng sau đó đã được khôi phục nguyên trạng. Kiến trúc ngôi chùa mang phong cách văn hóa và bản sắc Lào và đã trở thành một biểu tượng quốc gia của Lào.

Hiện nay khuôn viên chùa đã được rào lại không cho xe vào, trước kia khách tham quan có thể lái xe chạy xung quanh chùa

 

Cánh đồng Chum

Cánh đồng chum là một khu vực văn hóa lịch sử gần thành phố Khăm Muộn, thuộc tỉnh Xiêng Khoảng của Lào, nơi có hàng ngàn chum bằng đá nằm rải rác dọc theo cánh đồng thuộc Cao nguyên Xiêng Khoảng tại cuối phía bắc của dãy núi Trường Sơn. Trong Chiến tranh Việt NamChiến tranh bí mật, Cánh đồng chum được đề cập đến một cách đặc thù để chỉ cả vùng đồng bằng Xiêng Khoảng chứ không phải chỉ địa điểm văn hóa này.

 

Cánh đồng chum: Site 1
Cánh đồng chum: Site 1

 


Huyền thoại và lịch sử địa phương

Các cô gái Hmong leo lên chum tại Vị trí 1
Các cô gái Hmong leo lên chum tại Vị trí 1

Các nhà khảo cổ tin rằng các chum này có niên đại 1500 đến 2000 năm được những người thuộc nhóm Môn-Khmer mà nền văn hóa ngày nay không được người ta hiểu biết thấu đáo. Phần lớn các hiện vật khai quật có niên đại 500 trước Công nguyên - 800 sau Công Nguyên. Các nhà nhân loại và khảo cổ học cho rằng có thể các chum này đã được sử dụng làm chum được di cốt hoặc chứa thực phẩm. Các câu chuyện của người Lào và các huyền thoại cho rằng đã từng định cư ở trên khu vực này. Theo truyền thuyết, có một vị vua cổ đại tên là Khun Cheung - đã tiến hành cuộc chiến chống lại kẻ thù thành công. Ông đã cho tạo lập cánh đồng chum để ủ lên men và chứa số lượng lớn rượu gạo lao lao để ăn mừng chiến thắng.

Người phương tây đầu tiên tiến hành khảo sát, nghiên cứu và ghi chép liệt kê các hiện vật của cánh đồng chum là một nhà khảo cổ học người Pháp tên là Madeleine Colani thuộc Viễn đông Bác cổ (École Française d'Extrême Orient những năm 1930. Bà đã khai quật khi vực cánh đồng chum với đội nghiên cứu của mình và phát hiện ra một hang động gần đấy với các di hài của con người, bao gồm cả xương và tro bị đốt. Các khai quật của bà là toàn diện nhất dù đã có những cuộc khai quật khác.

Một quả bom của Hoa Kỳ đã phá hỏng một động trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam khi quân đội Pathet Lao sử dụng hang động làm căn cứ -

Vị trí

Vị trí của Cánh đồng chum và đồng bằng Xiêng Khoảng được bôi xanh.
Vị trí của Cánh đồng chum và đồng bằng Xiêng Khoảng được bôi xanh.

Nguồn gốc của những chiếc chum

Jar Site 1
Jar Site 1
Jar Site 3
Jar Site 3

Madeleine Colani suy doán, với nhiều bằng chứng kèm theo, rằng các cánh đồng chum có liên hệ với một con đường bộ hành từ bắc Ấn Độ.

Tình trạng hiện nay

Cánh đồng chum vẫn là một trong những địa điểm khảo cổ nguy hiểm nhất thế giới. Những quả bom chưa nổ sót lại thời chiến tranh thuộc Chiến tranh bí mật vẫn gây thương thích mỗi tuần. Trong thời kỳ chiến tranh đó, không quân Mỹ đã rải bom dày đặc khu vực này. Du khách đến đây chỉ được tham quan an toàn ở 3 vị trí là Vị trí 1, 2 và Vị trí 3 và phải theo chỉ dẫn của các biển báo các quả bom chưa nổ nhưng nhiều người vẫn không để ý đến các biển báo này.

 

Pháp

 

 

République française
Quốc kỳ Pháp Quốc huy Pháp
Quốc kỳ Quốc huy
Khẩu hiệu
Liberté, Egalité, Fraternité
(Tiếng Pháp: "Tự do, Bình đẳng, Bác ái")
Quốc ca
La Marseillaise
Vị trí của Pháp
Thủ đô
(và là thành phố lớn nhất)
Paris
48°51′N, 2°20′E
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Pháp¹
Chính phủ Cộng hòa
 -  Tổng thống
Thủ tướng
Nicolas Sarkozy
François Fillon
Thành lập
 -   • Hiệp ước Verdun
 • Cướp ngục Bastille
 • Hiến pháp Đệ ngũ Cộng hòa Pháp
 
Diện tích
 -  Tổng số 674,843 km² (hạng 42)
 -  Nước (%) 0,26%
Dân số
 -  Ước lượng 2005 63.044.000 (hạng 20)
 -  Điều tra 2005 63.044.000 (hạng 20)
 -  Mật độ 111 /km² (hạng 93)
GDP (PPP) Ước tính 2003
 -  Tổng số 1.661 tỷ Mỹ kim (hạng 7)
 -  Theo đầu người 27.600 Mỹ kim (hạng 20)
Đơn vị tiền tệ Euro, Franc CFP (EUR)
Múi giờ (UTC+1)
 -  Mùa hè (DST)  (UTC+2)
Tên miền Internet .fr
Mã số điện thoại +33
¹ Có nhiều ngôn ngữ địa phương

Cộng hòa Pháp, hay Pháp, (tiếng Pháp: République française hay France) là một quốc gia nằm tại Tây Âu, có một số đảo và lãnh thổ nằm rải rác trên nhiều lục địa khác (ngày xưa nước Pháp còn được gọi là Phú Lãng Sa hoặc Tây).

Pháp có biên giới với Bỉ, Luxembourg, Đức, Thuỵ Sĩ, Ý, Monaco, AndorraTây Ban Nha. Tại một số lãnh thổ hải ngoại của họ, Pháp có chung biên giới trên bộ với Brasil, SurinameAntilles Hà Lan. Pháp còn được nối với Anh Quốc qua Đường hầm Eo biển, chạy dưới Eo biển Anh (La Manche trong tiếng Pháp).

Pháp là một nước dân chủ theo thể chế cộng hòa bán tổng thống trung ương tập quyền (unitary semi-presidential republic). Quốc gia này là một nước công nghiệp, có nền kinh tế lớn thứ năm trên thế giới. Những giá trị quan trọng của thể chế này được thể hiện trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 (Déclaration des Droits de l'Homme et du Citoyen).

Pháp là một trong những nước sáng lập Liên minh châu Âu và đồng thời cũng là quốc gia lớn nhất trong khối này tính theo diện tích, nằm trong khu vực đồng eurokhối Schengen. Pháp là một thành viên sáng lập các tổ chức NATOLiên Hiệp Quốc, và là một trong năm thành viên có ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Pháp cũng là một trong bảy quốc gia trên thế giới được công nhận là có vũ khí hạt nhân.

Pháp lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 12 tháng 4 năm 1973.


Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Pháp

Lãnh thổ chính của Pháp (Mẫu quốc Pháp; tiếng Pháp: la Métropole, France métropolitaine hay không chính thức là l'hexagone) nằm tại Tây Âu, nhưng nước Pháp còn bao gồm một số lãnh thổ ở Bắc Mỹ, Caribbea, Nam Mỹ, Nam Ấn Độ Dương, Thái Bình DươngNam Cực (chủ quyền tuyên bố tại Nam Cực tuân theo Hệ thống Hiệp ước Nam Cực). Các lãnh thổ này có nhiều hình thức chính phủ khác biệt từ Lãnh thổ hải ngoại tới "quốc gia hải ngoại".

Mẫu quốc Pháp gồm nhiều vùng đặc điểm địa lý khác nhau, từ các đồng bằng ven biển ở phía bắc và phía tây cho đến những dãy núi phía đông nam (dãy Alps) và tây nam (dãy Pyrenees). Điểm cao nhất tây Âu nằm ở dãy Alps thuộc Pháp: đỉnh Mont Blanc cao 4,810 mét (15,781 ft) trên mực nước biển. Có nhiều vùng độ cao lớn khác như Massif Central, Jura, VosgesArdennes là những nơi có nhiều đá và rừng cây. Pháp cũng có những hệ thống sông lớn như sông Loire, sông Rhône, sông Garonne và sông Seine.

Với diện tích 674,843 kilômét vuông (260,558 mi²), Pháp là nước rộng thứ 40 trên thế giới. Mẫu quốc Pháp, diện tích 551,695 kilômét vuông (213,010 mi²), hơi rộng hơn YemenThái Lan, hơi nhỏ hơn Kenya và bang Texas của Hoa Kỳ.

Nhờ những khu vực và lãnh thổ hải ngoại nằm rải rác trên tất cả các đại dương của hành tinh, Pháp sở hữu Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng thứ hai trên thế giới với diện tích 11,035,000 kilômét vuông (4,260,000 mi²), chỉ đứng sau Hoa Kỳ (11,351,000 km² / 4,383,000 mi²), nhưng trước Úc (8,232,000 km² / 3,178,000 mi²).[1] Vùng đặc quyền kinh tế Pháp chiếm gần 8% tổng diện tích mọi vùng đặc quyền kinh tế trên thế giới, trong khi diện tích đất liền Cộng hòa Pháp chỉ chiếm 0.45% tổng bề mặt Trái Đất.

Tương phản và đa dạng

Pháp nổi tiếng trên thế giới là quốc gia có sự đa dạng dân tộc, kiến trúc và phong cảnh. Khoảng 50% dân số Pháp có nguồn gốc nước ngoài[cần chú thích], biến Pháp trở thành một trong những nước đa dạng dân tộc nhất trên thế giới. Những người di cư tới Pháp trước kia và gần đây đến từ khắp năm châu (Châu Phi, Châu Á, Châu Úc, Châu Âu và Châu Mỹ). Trung QuốcAnh Quốc là những nước có số di dân tới Pháp lớn nhất trong năm 2005. Pháp cũng là nơi có điểm cao nhất Châu Âu (Mont-Blanc 4,810 m; 15,780 ft) và điểm thấp nhất Châu Âu, Đồng bằng Rhone, (-5 m; -15 ft). Pháp nhỏ hơn Brasil mười bốn lần và chỉ bằng một nửa Ontario, có nghĩa chỉ cần một giờ chạy xe hơi[cần chú thích] là có thể đi ngang qua từ đầu này tới đầu nọ của đất nước. Dù có kích thước nhỏ[cần chú thích], phong cảnh Pháp rất đa dạng thay đổi theo từng vùng, từ Paris và những vùng ngoại ô của nó cho tới những vùng đất cao thuộc dãy Alps cùng các thị trấn du lịch biển.

Mặt khác, Pháp có nhiều công trình kiến trúc cổ như thành phố Paris hay Trung tâm Troyes. Luật Gia đình Pháp đã có 200 năm tuổi và được viết từ thời Napoléon. Pháp cũng là nước phát triển cao với mạng lưới đường cao tốc rộng lớn và dày đặc (ví dụ: Pháp hơi nhỏ hơn California nhưng mạng lưới đường cao tốc của nó có chiều dài gấp đôi bang này), 32,000 kilômét (20,000 mi) đường sắt (SNCF), cùng với các khu trượt tuyết hiện đại và các khu thương mại lớn. Pháp cũng là nước có mức tăng trưởng kết nối Internet nhanh chóng (ADSLcáp quang tại Paris), và vào năm 2004, lần thứ ba liên tiếp, hệ thống chăm sóc y tế Pháp được Tổ chức Y tế Thế giới xếp hạng thứ nhất thế giới.

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Pháp
Xem thêm: Danh sách các nghĩa tên quốc gia

La Mã tới Cách mạng

Lâu đài Chambord
Lâu đài Chambord

Các biên giới nước Pháp hiện đại gần tương tự như những biên giới của nước Gaule cổ, từng là nơi sinh sống của người Gaule Celt. Gaule bị La Mã của Julius Caesar chinh phục vào thế kỷ thứ nhất TCN, và người Gaule sau này đã chấp nhận ngôn ngữ Rôma (La tinh, đã du nhập vào ngôn ngữ Pháp) và văn hóa Rôma. Thiên chúa giáo bắt đầu bén rễ tại đây từ thế kỷ thứ 2 và thứ 3 sau Công Nguyên, và bắt đầu có cơ sở vững chắc từ thế kỷ thứ tư và thứ năm tới mức St. Jerome đã viết rằng Gaule là vùng duy nhất “không dị giáo”. Ở Thời trung cổ, người Pháp đã chứng minh điều này khi tự gọi mình là “Vương quốc Pháp Thiên chúa giáo nhất.”

Ở thế kỷ thứ 4 sau Công Nguyên, biên giới phía đông của Gaule dọc theo sông Rhine bị các bộ lạc Gécmanh, chủ yếu là người Franks, xâm chiếm, và đó chính là nguồn gốc cho chữ "Francie". Cái tên "France" xuất phát từ tên một vương quốc phong kiến của các vị vua Capetian nước Pháp xung quanh Paris. Vương quốc này tồn tại như một thực thể riêng biệt từ Hiệp ước Verdun (843), sau khi Charlemagne phân chia đế chế Carolingian thành Đông Francia, Trung FranciaTây Francia. Tây Francia chiếm vùng gần tương đương lãnh thổ nước Pháp hiện đại ngày nay.

Người Carolingian cai trị Pháp cho tới năm 987, khi Hugh Capet, Công tước Pháp và Bá tước Paris, lên ngôi Vua Pháp. Những thế hệ sau của ông, các triều đại Capetian, ValoisBourbon dần thống nhất đất nước thông qua hàng loạt các cuộc chiến tranh và những vụ thừa kế đất đai. Chế độ phong kiến phát triển đỉnh điểm ở thế kỷ 17 thời vua Louis XIV. Ở giai đoạn này Pháp có dân số đông nhất Châu Âu (xem Nhân khẩu Pháp) và có ảnh hưởng to lớn tới chính trị, kinh tế và văn hóa Châu Âu. Tới cuối thời kỳ này, Pháp đóng vai trò quan trọng trong cuộc Cách mạng Mỹ khi cung cấp tiền và một số vũ khí cho những người khởi nghĩa chống Anh.

Từ quân chủ tới nước Pháp hiện đại

Chế độ quân chủ tồn tại cho tới cuộc Cách mạng Pháp, năm 1789. Vua Louis XVI và vợ ông, Marie Antoinette, bị giết cùng hàng nghìn công dân Pháp khác. Sau thời gian của một loạt những chính phủ tồn tại ngắn ngủi, Napoleon Bonaparte nắm quyền kiểm soát nền Cộng hòa năm 1799, tự phong mình làm Tổng tài, và sau này là Hoàng đế của cái hiện được gọi là Đế chế Pháp thứ nhất (1804–1814). Trong thời của các cuộc chiến tranh, quân đội của ông đã chinh phục hầu hết lục địa Châu Âu và các thành viên gia đình Bonaparte được chỉ định làm vua tại các vương quốc mới được thành lập.

Sau khi Napoleon bị đánh bại năm 1815 tại Trận Waterloo, quân chủ Pháp được tái lập. Năm 1830, một cuộc khởi nghĩa dân sự đã thành lập ra Quân chủ tháng 7 lập hiến, tồn tại tới năm 1848. Nền Cộng hòa thứ hai ngắn ngủi chấm dứt năm 1852 khi Louis-Napoléon Bonaparte tuyên bố thành lập Đế chế Pháp thứ hai. Louis-Napoléon bị hất cẳng sau khi thua trận trong cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870 và bị thay thế bởi nền Cộng hòa thứ ba.

Eugène Delacroix - La Liberté guidant le peuple ("Thần tự do dẫn dắt Nhân dân"), một biểu tượng của Cách mạng Pháp 1830
Eugène Delacroix - La Liberté guidant le peuple ("Thần tự do dẫn dắt Nhân dân"), một biểu tượng của Cách mạng Pháp 1830

Pháp sở hữu các thuộc địa dưới nhiều hình thức từ đầu thế kỷ 17 cho tới tận thập kỷ 1960. Trong thế kỷ 19 và 20, đế chế thuộc địa toàn cầu của họ lớn thứ hai thế giới chỉ sau Đế chế Anh. Thời đỉnh điểm, giữa năm 1919 và 1939, đế chế thuộc địa Pháp thứ hai vượt quá 12,347,000 kilômét vuông (4,767,000 sq. mi) đất liền. Gồm cả Mẫu quốc Pháp, tổng diện tích đất liền thuộc chủ quyền Pháp đạt tới 12,898,000 kilômét vuông (4,980,000 dặm vuông) trong thập kỷ 1920 và 1930, chiếm 8.6% diện tích đất liền thế giới.

Dù là nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp phải chịu những tổn thất to lớn cả về con người và vật chất khiến họ trở nên suy yếu trong những thập kỷ tiếp sau. Những năm 1930 được đánh dấu bởi nhiều cuộc cải cách xã hội do Chính phủ Mặt trận Bình dân đưa ra.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, sau một một trận đánh ngắn, dữ dội và mang tính sai lầm chiến lược, giới lãnh đạo Pháp đã quyết định đầu hàng Đức năm 1940. Chính sách hợp tác với kẻ thù, một hành động khiến một số người phản đối, dẫn tới việc thành lập Các lực lượng Pháp Tự do bên ngoài nước Pháp và Kháng chiến Pháp ở bên trong. Pháp được Đồng Minh giải phóng năm 1944.

Nền Đệ tứ Cộng hòa Pháp được thành lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai, và đấu tranh nhằm lấy lại vị thế kinh tế, chính trị của một cường quốc. Pháp đã nỗ lực giữ vững đế chế thuộc địa của mình nhưng nhanh chóng rơi vào khủng hoảng. Nỗ lực miễn cưỡng năm 1946 nhằm giành lại quyền kiểm soát Đông Dương thuộc Pháp dẫn tới cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, chấm dứt với thất bại và việc rút quân của họ năm 1954. Chỉ vài tháng sau, Pháp phải đối mặt với một cuộc xung đột mới và ác liệt hơn cuộc chiến tại nước thuộc địa chính và lâu đời nhất của họ, Algeria.

Cuộc tranh luận việc có nên giữ quyền kiểm soát Algeria hay không sau này đã khiến hơn 1 triệu người định cư Châu Âu tại đây trở về nước, gây ra sự bất đồng và hầu như đã dẫn tới nội chiến. Năm 1958, nền Đệ tứ Cộng hòa ốm yếu và bất ổn phải nhường chỗ cho nền Đệ Ngũ Cộng hoà, với việc mở rộng quyền lực tổng thống; trong vai trò này, Charles de Gaulle đã tìm cách củng cố đất nước và tiến hành những bước đi nhằm chấm dứt chiến tranh. Chiến tranh giành Độc lập Algeria chấm dứt với các cuộc đàm phán hòa bình năm 1962 với việc Algeria giành lại độc lập.

Trong những thập kỷ gần đây, sự hòa giải và hợp tác của Pháp với Đức đóng vai trò trung tâm của họ trong việc hội nhập chính trị và kinh tế của Liên minh Châu Âu, gồm việc phát hành đồng tiền chung Châu Âu euro tháng 1, 1999. Pháp luôn là nước đứng đầu trong số các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu tìm cách khai thác lợi thế của một đồng tiền chung nhằm tạo ra một Liên minh Châu Âu với quan điểm thống nhất, đồng nhất chính trị, quốc phòng và an ninh ở mức cao hơn. Tuy nhiên, cử tri Pháp bỏ phiếu phản đối Hiệp ước thành lập một Hiến pháp chung Châu Âu tháng 5 năm 2005.

Chính phủ và chính trị

Biểu tượng chính phủ Pháp
Biểu tượng chính phủ Pháp
Các nguyên tắc căn bản mà Cộng hòa Pháp phải tôn trọng được ghi trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1789.
Các nguyên tắc căn bản mà Cộng hòa Pháp phải tôn trọng được ghi trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1789.
Bài chính về chính trị và chính quyền của France có thể tìm đọc tại Loạt bài về chính trị và chính quyền của France.

Hiến pháp của nền Đệ Ngũ Cộng hòa được thông qua sau cuộc trưng cầu dân ý ngày 28 tháng 9, 1958. Hiến pháp mở rộng to lớn quyền lực hành pháp so với Nghị viện.

Theo hiến pháp, Tổng thống Cộng hòa Pháp được bầu cử theo quy tắc phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ 5 năm (trước kia là 7 năm). Sự phân xử của Tổng thống đảm bảo hoạt động thường xuyên của các cơ cấu quyền lực công cộng và tính liên tục của quốc gia. Tổng thống chỉ định thủ tướng, là người cầm đầu nội các, các chỉ huy các lực lượng vũ trang, và ký kết các hiệp ước.

Nghị viện Pháp theo chế độ lưỡng viện gồm Quốc hội (Assemblée Nationale) và Thượng viện. Các đại biểu Quốc hội đại diện cho các khu vực bầu cử địa phương và được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 5 năm. Quốc hội có quyền bãi miễn chính phủ, và vì thế phe chiếm đa số trong Quốc hội sẽ quyết định sự lựa chọn chính phủ. Các thượng nghị sĩ được lựa chọn bởi theo bầu cử với nhiệm kỳ 6 năm (trước kia là 9 năm), và một nửa số ghế được bầu lại sau mỗi 3 năm bắt đầu từ tháng 9, 2008.[2]

Quyền lực lập pháp của Thượng viện bị giới hạn: trong trường hợp có sự bất đồng giữa hai viện, Quốc hội sẽ là bên có tiếng nói cuối cùng, ngoại trừ đối với các luật hiến pháp (những sửa đổi hiến pháp & "lois organiques"). Chính phủ có ảnh hưởng lớn trong việc đưa ra chương trình nghị sự của nghị viện.

Trong ba mươi năm qua, chính trị Pháp có đặc trưng bởi sự đối đầu chính trị giữa hai phe: cánh tả, tập trung quanh Đảng Xã hội chủ nghĩa Pháp(Parti socialiste), một đảng trung tả, và cánh hữu, quanh Đảng Tập hợp vì nền Cộng hoà (RPR) và hậu duệ của nó là Union pour un Mouvement Populaire (UMP), một đảng trung hữu theo chủ nghĩa bảo thủ. Đảng Pháp cánh hữu đã có bước phát triển lớn đầu thập kỷ 1980 khi lợi dụng sự lo ngại của cử tri về sự thụt lùi của đất nước, sự 'tan rã quốc gia' kết quả của quá trình nhập cư và toàn cầu hóa hô hào ủng hộ những bộ luật nhập cư khắt khe hơn. Sau này số lượng cử tri ủng hộ họ dừng ở mức ổn định khoảng 16%.

Chính sách đối ngoại của Pháp được hình thành phần lớn với tư cách thành viên Liên minh Châu Âu. Ngày 29 tháng 5, 2005 cử tri Pháp đã bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý với khoảng 55% số phiếu phản đối phê chuẩn Hiệp ước thành lập Hiến pháp chung Châu Âu. Kết quả cuộc bầu cử được dư luận rộng rãi coi là mang tính quan trọng lớn với tương lai phát triển của Liên minh Châu Âu, cũng như khả năng giữ vai trò lãnh đạo của Pháp ở Châu Âu.

Pháp cũng là một thành viên của Văn phòng Cộng đồng Thái Bình Dương (SPC), Hiệp hội Ấn Độ Dương (COI), và là một thành viên liên kết của Hiệp hội Quốc gia Caribbea (ACS) và là thành viên đứng đầu Tổ chức các nước sử dụng tiếng Pháp (OIF) với năm mốt nước sử dụng tiếng Pháp hoàn toàn hay một phần.

Pháp cũng là nơi đóng trụ sở của Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD), UNESCO, Interpol, và Văn phòng Trọng lượng và Đo lường Quốc tế chịu trách nhiệm về tiêu chuẩn hệ mét.

Các khu vực hành chính

Pháp được chia thành 26 vùng hành chính: 22 trong Mẫu quốc Pháp (21 trên phần lục địa Mẫu quốc; 1 là "lãnh thổ tập thể" Corse, trên đảo Corsica, thường được gọi là một vùng theo cách nói thông thường région), và 4 vùng hải ngoại. Các vùng được chia tiếp thành 100 khu vực. Các khu vực được đánh số (chủ yếu theo bảng chữ cái) và số này được dùng làm mã bưu chính cũng như mã trên bảng số xe.

Các khu vực lại được chia tiếp thành 342 quận, nhưng các quận không có hội đồng lập pháp theo bầu cử và chỉ là đơn vị hành chính của đất nước. Các quận được chia thành 4,035 tổng, các tổng này cũng chỉ có ý nghĩa hành chính. Cuối cùng, các quận được chia thành 36,682 làng, đây là các chính quyền tự quản với hội đồng được bầu cử riêng biệt (hội đồng tự quản).

Vùng, Khu vực, và Làng được gọi là "các lãnh thổ tập thể" (collectivités territoriales), có nghĩa họ có một cơ quan hành pháp và lập pháp riêng biệt, trong khi các quậntổng chỉ đơn giản là các đơn vị hành chính. Tới tận năm 1940, các quận vẫn là các lãnh thổ tập thể với một cơ quan lập pháp bầu cử riêng biệt (hội đồng quân), nhưng dưới thời Vichy Pháp cơ quan này đã bị ngừng hoạt động và chính thức bị hủy bỏ bởi nền Đệ Tứ Cộng hòa Pháp năm 1946. Theo lịch sử, các tổng cũng từng là các lãnh thổ chung với cơ quan lập pháp riêng biệt.

Bốn khu vực là các khu vực hải ngoại (đồng nghĩa với bốn vùng hải ngoại) là một phần trong tổng thể nước Pháp (và Liên minh Châu Âu) và vì thế có quy chế tương tự như các khu vực thuộc Mẫu quốc.

Ngoài 26 vùng và 100 khu vực, Cộng hòa Pháp còn gồm bốn Collectivité d'outre-mer, một sui generis (New Caledonia), và một Lãnh thổ hải ngoại.

Các lãnh thổ và Overseas collectivities là một phần hình thành nên Cộng hòa Pháp nhưng không hình thành nên Liên minh Châu Âu hay vùng tài chính của nó. Các lãnh thổ Thái Bình Dương tiếp tục sử dụng đồng franc Thái Bình Dương có giá trị ổn định với đồng euro. Trái lại, bốn vùng/khu hải ngoại sử dụng đồng franc Pháp và hiện dùng đồng euro.

Pháp cũng vẫn giữ quyền kiểm soát một số hòn đảo nhỏ không thường xuyên có người ở tại Ấn Độ DươngThái Bình Dương: Bassas da India, Đảo Clipperton, Đảo Europa, Quần đảo Glorioso, Đảo Juan de Nova, Đảo Tromelin. Xem Các hòn đảo thuộc quyền kiểm soát của Pháp tại Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.

Vận tải

Bài chi tiết: Vận tải Pháp

Quân đội

Bài chi tiết: Quân đội Pháp

Các lực lượng vũ trang Pháp được chia thành bốn nhánh:

Độ tuổi quân sự là 17. Từ Chiến tranh giành độc lập Algeria, chế độ nghĩa vụ quân sự dần giảm bớt và chính phủ Jacques Chirac đã bãi bỏ nó năm 1996.

Trong số các nền kinh tế Liên minh Châu Âu, Pháp và Anh Quốc là những nước có tỷ lệ chi tiêu quân sự lớn: Pháp chiếm 2.6% GDP, Anh Quốc 2.4%, theo các con số năm 2003 của NATO. Hai nước này chiếm 40% chi tiêu quân sự của EU. Tại hầu hết các nước thuộc khối này, chi tiêu quân sự chỉ chưa tới 1.5% GDP. Khoảng 10% ngân sách quốc phòng Pháp chi cho force de frappe, hay vũ khí hạt nhân.

Kinh tế

Chiếc Airbus A380 đầu tiên hoàn thành tại buổi lễ "Giới thiệu A380" ở Toulouse ngày 18 tháng 1, 2005.
Chiếc Airbus A380 đầu tiên hoàn thành tại buổi lễ "Giới thiệu A380" ở Toulouse ngày 18 tháng 1, 2005.
Bài chi tiết: Kinh tế Pháp

Kinh tế Pháp bao gồm số lượng lớn doanh nghiệp tư nhân (gần 2.5 triệu công ty đã đăng ký) với sự can thiệp đáng kể (dù đang giảm bớt) từ phía chính phủ (xem chính sách kinh tế chỉ huy). Chính phủ giữ ảnh hưởng khá lớn trên những lĩnh vực cơ sở hạ tầng quan trọng, sở hữu đa số vốn trong các ngành đường sắt, điện, hàng không và các công ty viễn thông. Nước này đã dần nới lỏng kiểm soát từ đầu thập kỷ 1990. Chính phủ dần bán ra các cổ phần đang nắm giữ trong France Télécom, Air France, cũng như trong các ngành bảo hiểm, ngân hàng và công nghiệp quốc phòng.

Là một thành viên nhóm các nước công nghiệp phát triển nhất thế giới G8, kinh tế Pháp xếp hàng thứ sáu thế giới năm 2005, sau Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Cộng hòa Nhân dân Trung HoaAnh Quốc. Pháp là một trong 10 thành viên Liên minh Châu Âu đầu tiên sử dụng đồng Euro ngày 1 tháng 1, 1999, và các đồng tiền xu cũng như tiền giấy euro đã hoàn toàn thay thế đồng franc của Pháp đầu năm 2002.

Theo Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD), trong năm 2004 Pháp là nhà xuất khẩu hàng hóa sản xuất đứng hàng thứ năm thế giới sau Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và đứng trước Anh Quốc. Nước này cũng đứng thứ tư thế giới về nhập khẩu hàng hóa sản xuất (sau Hoa Kỳ, Đức, và Trung Quốc, nhưng trước Anh Quốc và Nhật Bản). Năm 2003 Pháp là nước thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng hàng thứ hai trong số các nước OECD ở mức 47 tỷ dollar, xếp sau Luxembourg (nơi nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu là sự chuyển tiền tới các ngân hàng đóng trụ sở tại đó) nhưng trước Hoa Kỳ (39.9 tỷ dollar), Anh Quốc (14.6 tỷ dollar), Đức (12.9 tỷ dollar), hay Nhật Bản (6.3 tỷ dollar). Cùng trong năm này, các công ty Pháp đã đầu tư 57.3 tỷ dollar ra ngoài đất nước khiêé Pháp trở thành nhà đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn thứ hai khối OECD, sau Hoa Kỳ (173.8 tỷ dollar), và trước Anh Quốc (55.3 tỷ dollar), Nhật Bản (28.8 tỷ dollar) và Đức (2.6 tỷ dollar).

Trong báo cáo OECD in Figures xuất bản năm 2005, OECD cũng ghi chú rằng Pháp hiện dẫn đầu các nước G7 về hiệu năng sản xuất (tính theo GDP trên giờ làm việc).[3] Năm 2004, GDP trên giờ lao động tại Pháp là $47.7, xếp hạng trên Hoa Kỳ ($46.3), Đức ($42.1), Anh Quốc ($39.6), hay Nhật Bản ($32.5).[4]

Dù có năng suất trên giờ làm việc cao hơn Hoa Kỳ, GDP trên đầu người của Pháp lại thấp hơn khá nhiều so với GDP trên đầu người Hoa Kỳ, trên thực tế chỉ tương đương mức GDP trên đầu người của các nước Châu Âu khác, trung bình thấp hơn 30% so với mức của Hoa Kỳ. Lý do giải thích vấn đề này là phần trăm dân số tham gia lao động của Pháp thấp hơn so với Mỹ, khiến GDP trên đầu người của Pháp ở mức thấp dù có năng suất lao động cao hơn. Trên thực tế, Pháp là một trong những nước có tỷ lệ người lao động trong độ tuổi 15-64 thấp nhất khối OECD. Năm 2004, 68.8% dân số Pháp trong độ tuổi 15-64 có việc làm, so với 80.0% tại Nhật Bản, 78.9% tại Anh Quốc, 77.2% tại Hoa Kỳ, và 71.0% tại Đức.[5] Hiện tượng này là kết quả của tình trạng thất nghiệp hầu như trong ba mươi năm liền tại Pháp, dẫn tới ba hậu quả làm giảm sút số lượng dân số lao động: khoảng 9% dân số ở độ tuổi lao động không có việc làm; sinh viên phải trì hoãn càng lâu càng tốt thời gian tham gia thị trường lao động của mình; và cuối cùng, chính phủ Pháp đã đưa ra nhiều biện pháp khuyến khích người lao động nghỉ hưu sớm ngay từ độ tuổi 50, dù những biện pháp này đang được giảm bớt.

Như các nhà kinh tế đã từng nhắc đi nhắc lại trong những năm qua, vấn đề chính của nền kinh tế Pháp không phải là năng suất lao động. Theo họ, vấn đề chính là cải cách cơ cấu, nhằm tăng số lượng người lao động trên tổng dân số. Các nhà kinh tế theo lý thuyết Tự doKeynesian đưa ra những biện pháp khác nhau cho vấn đề này. Cánh hữu coi số giờ lao động thấp và việc miễn cưỡng cải cách thị trường lao động là những điểm yếu trong nền kinh tế Pháp, trong khi cánh tả coi việc thiếu những chính sách hỗ trợ công bằng xã hội của chính phủ là điều cần giải quyết. Những nỗ lực gần đây của chính phủ nhằm điều chỉnh thị trường lao động trẻ, chống thất nghiệp đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ.

Với hơn 75 triệu du khách nước ngoài năm 2003, Pháp được xếp hạng là điểm đến hàng đầu thế giới, trước Tây Ban Nha (52.5 triệu) và Hoa Kỳ (40.4 triệu). Khả năng thu hút du khách này nhờ có các thành phố với nhiều di sản văn hoá (đứng đầu là Paris), các bãi biển và các khu nghỉ dưỡng ven biển, các khu trượt tuyết, các vùng nông thôn đẹp và yên bình thích hợp với du lịch xanh.

Pháp sở hữu một ngành công nghiệp hàng không quan trọng đứng đầu là tổ hợp hàng không Châu Âu Airbus và là cường quốc Châu Âu duy nhất (ngoại trừ Nga) có sân bay vũ trụ (Centre Spatial Guyanais) riêng của mình. Pháp cũng là nước độc lập nhất về năng lượng ở phương Tây nhờ đã đầu tư lớn vào năng lượng nguyên tử, khiến nước này trở thành quốc gia gây phát sinh carbon dioxide thấp nhất trong số các nước công nghiệp phát triển trên thế giới. Nhờ những khoản đầu tư lớn vào kỹ thuật nguyên tử, khoảng 77% nhu cầu năng lượng của Pháp được cung cấp từ các nhà máy điện nguyên tử.

Với những vùng đất rộng rãi và màu mỡ, việc áp dụng kỹ thuật hiện đại cũng như các biện pháp hỗ trợ của EU khiến Pháp trở thành nước sản xuất và xuất khẩu nông nghiệp hàng đầu Châu Âu. Lúa mì, gia cầm, sữa, thịt bò, thịt lợn cũng như các sản phẩm thức ăn và rượu vang Pháp nổi tiếng trên thế giới là các mặt hàng xuất khẩu nông nghiệp hàng đầu của nước này. Tổng các khoản trợ cấp nông nghiệp của EU dành cho Pháp lên tới 14 tỷ dollar.

Từ cuối Chiến tranh thế giới thứ hai chính phủ Pháp đã đưa ra những nỗ lực to lớn nhằm hợp tác ngày càng sâu với Đức, cả về mặt kinh tế và chính trị. Hiện nay, hai nước này thường được coi là những quốc gia "trung tâm" trong việc thúc đẩy quá trình hội nhập sâu hơn nữa trong Liên minh Châu Âu.

Nhân khẩu

Thành phố Lyon
Thành phố Lyon
Bài chi tiết: Nhân khẩu Pháp

Từ thời tiền sử, Pháp đã là ngã tư đường của thương mại, di cư và các cuộc xâm chiếm. Bốn tộc người Châu Âu chính - tiền-Celtic, Celtic (Gallic và Breton), Latin, và Germanic (Franks, Visigoths, Burgundians, Vikings) - đã hòa trộn với nhau trong nhiều thế kỷ để tạo nên dân số hiện nay của Pháp. Bên cạnh các sắc tộc "lịch sử", những sắc dân mới đã di cư tới Pháp từ thế kỷ 19: người Bỉ, người Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Rumani, Armenia, người Do Thái từ Đông Âu và Maghreb, người Ả rập và Berber từ Maghreb, người da đen Châu Phi và Caribbea, người Hán Trung Quốc, là những sắc dân đông đảo nhất. Theo ước tính, hiện nay 40% dân số Pháp là hậu duệ của những người di cư đến đây, khiến Pháp trở thành một trong những quốc gia đa dạng sắc tộc nhất thế giới, dù vẫn là một đất nước Gallic. Tuy nhiên, những người nhập cư từ các nước Châu Âu khác có thời gian hòa nhập ngắn, trong khi những nhóm người không Châu Âu thường hòa nhập chậm chạp vào xã hội mới vì các khác biệt văn hóa cũng như phân biệt xã hội lớn hơn.

Dân số

Bắt đầu từ thế kỷ 19, lịch sử phát triển dân số Pháp bắt đầu trở nên khác biệt rõ nét so với Thế giới Phương Tây. Không như phần còn lại của Châu Âu, Pháp không trải qua thời kỳ phát triển dân số mạnh trong thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20. Trái lại, ở nửa sau thế kỷ 20 dân số nước này lại tăng nhanh hơn các nước Châu Âu khác và vì thế cũng ở mức cao hơn trong các thế kỷ trước.

Sau năm 1974, mức tăng dân số Pháp trở nên ổn định, và hạ xuống mức thấp nhất trong thập kỷ 1990 với mức tăng hàng năm 0.39%, tương tự với Châu Âu vốn đang ở giai đoạn giảm sút dân số. Tuy nhiên, những kết quả đầu tiên của cuộc điều tra dân số năm 2004 của Pháp đã làm các nhà nhân khẩu học ngạc nhiên lớn. Cuộc điều tra cho thấy mức tăng dân số đã lại tăng mạnh sau cuộc điều tra năm 1999, một điều không ai từng nghĩ tới trước đó. Từ năm 1999 đến năm 2003, mức tăng dân số hàng năm là 0.58%. Năm 2004, tốc độ tăng dân số ở mức 0.68%, hầu như tương đương với Bắc Mỹ. Năm 2004 cũng là năm tốc độ tăng dân số Pháp đạt mức cao nhất kể từ năm 1974. Mức tăng dân số của Pháp vượt xa các nước Châu Âu (ngoại trừ Cộng hòa Ireland). Năm 2003, tăng trưởng dân số tự nhiên Pháp (trừ nhập cư) hầu như chiếm toàn bộ mức tăng trưởng dân số tự nhiên Châu Âu: dân số Liên minh Châu Âu tăng 216,000 người (không tính nhập cư), trong số đó 211,000 là từ riêng nước Pháp, và 5,000 từ toàn bộ các nước khác cộng lại. Năm 2004 tăng trưởng dân số tự nhiên đạt 256.000, nhưng hiện ta chưa có con số cụ thể của các thành viên Liên minh Châu Âu khác.

Những kết quả không ngờ đó đưa lại những hậu quả lớn cho tương lai. Hiện tại, Pháp là nước có dân số đông thứ ba Châu Âu, sau NgaĐức. Trước kia, các nhà nhân khẩu học cho rằng tới năm 2050 dân số Mẫu quốc Pháp sẽ đạt mức 64 triệu người, nhưng hiện nay họ cho rằng ước tính đó quá thấp khi so sánh với mức độ tăng trưởng dân số thập kỷ 1990. Hiện nay các nhà nhân khẩu học ước tính, tới năm 2050 dân số Mẫu quốc Pháp sẽ là 75 triệu người, và lúc đó Pháp sẽ là nước đông dân nhất Liên minh Châu Âu, trên Đức (71 triệu), Anh Quốc (59 triệu), và Italia (43 triệu).

Năm 2005, tỷ lệ sinh và khả năng sinh sản tiếp tục tăng. Tỷ lệ sinh tự nhiên trên tỷ lệ tử tăng tới 270.100. Tỷ lệ sinh sản trong suốt cuộc đời tăng tới mức 1,94 năm 2005, từ mức 1,92 năm 2004. Số lượng nhập cư thực hơi giảm xuống còn 97.500 năm 2005. Tại Pháp, nhập cư chiếm một phần tư tổng tăng dân số--mức trung bình của toàn Châu Âu là 80%. [6][7] Nếu những ước tính đó là chính xác, nó có thể làm thay đổi toàn bộ sự cân bằng quyền lực tại Brussels. Đây sẽ là lần đầu tiên từ những năm 1860 Pháp trở thành quốc gia có dân số lớn nhất tại Châu Âu (ngoại trừ Nga). Vào giữa năm 2004 EU có 460 triệu dân, 13,6% trong số đó sống tại Pháp (gồm cả những khu vực hải ngoại). Tới năm 2050 ước tính dân số Liên minh Châu Âu (của 25 nước thành viên hiện tại) sẽ giảm xuống còn 445 triệu người, trong số đó 17,5% sẽ sống tại Pháp.

Theo Cao ủy Liên hiệp quốc về Người tị nạn (UNHCR), số lượng người đang xin tị nạn chính trị tại Pháp đã tăng khoảng 3 % trong giai đoạn 2003 và 2004, trong khi ở cùng thời kỳ đó, số đơn xin tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ giảm khoảng 29 %. Vì thế, Pháp đã thay thế Hoa Kỳ trở thành điểm đến hàng đầu cho những người tị nạn chính trị năm 2004.

Một vấn đề lo ngại chính trị dai dẳng chính là sự giảm sút dân số nông thôn. Trong giai đoạn 1960-1999 mười lăm khu vực nông nghiệp đã gặp phải vấn đề giảm sút dân số. Trường hợp nặng nề nhất, dân số Creuse đã giảm 24%.

Ngôn ngữ

Ngôn ngữ chính thức duy nhất của Pháp là tiếng Pháp, theo Điều 2 Hiến pháp năm 1992. Tuy nhiên, tại Mẫu quốc Pháp nhiều ngôn ngữ địa phương như: các biến thể tiếng Đức miền cao (được gọi là tiếng AlsaceĐức Lorraine), Occitan (gồm GasconProvençal), các thổ ngữ Oïl (như PicardPoitevin-Saintongeais), Basque, Breton, Catalan, CorsicanFranco-Provençal. Cũng có một số ngôn ngữ thỉnh thoảng được sử dụng hay được hiểu khác, đa số bởi những người có tuổi. Tương tự, có nhiều ngôn ngữ được dùng tại các lãnh thổ và khu vực hải ngoại Pháp: các ngôn ngữ Créole, các ngôn ngữ thổ dân Châu Mỹ, các ngôn ngữ Đa Đảo, các ngôn ngữ Tân Calédonie, Comoria. Tuy nhiên, chính phủ Pháp và hệ thống trường công lập cho tới gần đây vẫn không khuyến khích sử dụng các ngôn ngữ đó. Hiện chúng được dạy tại một số trường, dù tiếng Pháp vần là ngôn ngữ chính thức duy nhất của chính phủ, địa phương hay quốc gia. Một số ngôn ngữ của những người nhập cư cũng được sử dụng tại Pháp, đặc biệt tại các thành phố lớn: tiếng Bồ Đào Nha, Ả rập Maghreb, nhiều ngôn ngữ Berber, nhiều loại ngôn ngữ Hạ Sahara Châu Phi, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ,