Tôi rất mê sưu tầm những món đồ cổ, đặc biệt là đồng hồ cổ.

Xin giới thiệu với các bạn những bộ sưu tập của tôi.

* Xem đồng hồ cổ, nhấn vào mục " BỘ SƯU TẬP ĐỒNG HỒ CỔ"

* Xem lồng chim, nhấn vào mục " BỘ SƯU TẬP LỒNG CHIM"

* Xem tượng đồng, tượng sứ, ngà voi, ngọc thạch, nhấn vào " BỘ SƯU TẬP TƯỢNG"

SAIGONGUIDE

Tuesday , Apr 15, 2008, Posted at: 11:30(GMT+7)

Viet Nam’s Record Holding Clock Collector

 

Just stepping into the beautiful house of Artist Do Duy Ngoc, visitors will be dazzled by some 700 clocks of all kinds displayed on his shelves, his tables, sitting in showcases and hung all over his walls.



At the age of 17, Ngoc, now 58 years old, left his family to go to Sai Gon for further education after studying painting at the Hue Art School in Hue, the former imperial capital of Viet Nam. To earn money for his schooling, Ngoc had to do various jobs including cleaning up in a printing workshop, selling newspapers and proofreading.

Despite the challenges and hardships, Ngoc achieved great success in his studies and finally graduated with bachelor degrees in Oriental philosophies, Vietnamese-Sino Chinese, and in newspapers and magazines.

Heart of a Collector

Ngoc began his collection hobby in the early 1970s. At the outset, he collected porcelains, gems and articles made of elephant tusks. Shortly afterwards, he shifted his interest to collecting clocks.

Ngoc explains that he loved to listen to the tick-tock sound of a clock ever since he was a small child. When walking past a clock store, Ngoc always stopped in front for awhile to contemplate the aestheticism of the clocks, their different designs and shapes, as they hung from the walls.

Ngoc says, “I’m interested in watching the swing of the clock pendulum. In many ways, the working of the clock is just as delicate and sensitive as that of the human body – a slight jolt can disrupt the swing of the pendulum and stop the clock, just as a poor heart can suddenly give up and extinguish life. The vicissitudes of both mechanisms are so much alike. This is why I feel the heartbeat and life itself in the working of the clock, and learn to appreciate every precious moment of time passing by with its constant tick-tocks.”

Another reason, says Ngoc, was that many people have collected porcelain, gems and stamps but nobody collected clocks. According to the first clock collector in Viet Nam, the art of collecting antiques lies not only in the search for the rare and precious but also in the rejection of the mundane and trivial. This is also the art of living.

At his home, there are currently some 700 wind-up clocks manufactured in many

different countries around the world. The oldest was made in the 17th century and the latest around 100 years ago and the most expensive is probably a French clock worth some US$20,000. There are also atmospheric clocks and “rolling ball” clocks. Most were brought during Ngoc’s trips to the United States and Europe.

Ngoc said, “Collecting clocks is the karma of my life. I keep on seeking and hoarding as many ancient clocks as possible. I often feel a great anguish when a beautiful clock can’t be acquired because it is not for sale or there are not sufficient funds available for its purchase. With time, I have come to realize that greed is the root of misery, and only after one has overcome their desire for ownership can one truly appreciate a clock for its beauty – be it his or others’.”

Passion’s Price



Ancient clocks, of course, cost a lot of money. Sometimes, Ngoc had to spend thousands of dollars on a desired clock. He confesses that there have been times he did think about selling all of his clocks.

“I now and then feel that it’s rather heartless for me to spend thousands of dollars on a clock just for fun while many poor people are striving for only a few thousand dong a day to survive.”

So far, however, Ngoc has not sold his collection, prevented by the realization that no matter what he does and how he tries, he can’t exchange his simple hobby for absolute equality between people in society.

To earn more money for his luxury hobby, Ngoc has to work as a book cover designer and a painter. He has become one of the top book cover artists in the city and gained a lot of money from this creative job. He also earns money from his paintings, which are mostly sold in the United Statesand Europe.

Four years ago, VietBooks, a Vietnamese Guinness records organization, granted Ngoc and his long-running passion a certificate for being the person with the most wind-up clocks in Viet Nam.

Phuong Lan

NGƯỜI LÀM RA KỶ LỤC
 (23/07/2007 15:00:46)

Đỗ Duy Ngọc - Người níu giữ thời gian

 

Anh Đỗ Duy Ngọc thường được bạn bè gọi là “người ham chơi”, bởi ngoài bộ sưu tập lồng chim, anh còn là người say mê cổ vật, anh đã sưu tập được rất nhiều đồ sành sứ, tượng đồng, tượng ngà, đồ ngọc… Nhưng món mà anh thích nhất là những chiếc đồng hồ cổ. Và anh được những người quen biết đặt cho biệt danh là “Người ham chơi”.

Người ham chơi với những chiếc đồng hồ cổ

Nói chuyện về những chiếc đồng hồ của anh, anh cho biết, anh rất mê tiếng tích tắc của thời gian, say sưa ngắm nhìn dòng thời gian trôi đi qua sự vận động của những chiếc kim. Anh bảo là không ai thắng được những chiếc kim đồng hồ và anh chơi đồng hồ như là kẻ nghe tiếng thời gian và níu giữ thời gian. Anh đã bỏ rất nhiều công sức và tiền của đi săn lùng đồng hồ khắp trong nước và cả ở nước ngoài. Dù xa đến đâu, chỉ cần nghe có chiếc đồng hồ cổ nào xuất hiện là anh lại lên đường.

Hiện anh có trên 300 chiếc đồng hồ cổ các loại, tất cả đều là đồng hồ cơ, hoạt động bằng hệ thống dây thiều và con lắc.Trong đó có hơn 80 chiếc đồng hồ cúc cu, phần nhiều xuất xứ từ Đức và được sản xuất từ thập niên 50, 60 của thế kỷ trước. Những chiếc đồng hồ này đủ kích cỡ, có cái chỉ lớn bằng bao thuốc lá, nhưng cũng có cái lớn bằng cả cánh cửa sổ. Có loại 15 phút chim ra hót một lần, có cái 30 phút có đoàn vũ công ra múa, có cái đến giờ có hai tay bợm nhậu nâng cốc bia uống theo tiếng nhạc…

Ngoài ra còn có những chiếc đồng hồ tủ, cao hơn 2m, có 1 chuông hay 2, 4, 5 chuông với những con lắc dài hơn 1m. Đồng hồ để bàn và đồng hồ treo tường với nhiều kiểu dáng và nhiều đặc điểm vô cùng phong phú. Có cái một tuần lên dây một lần, có cái 400 ngày mới lên day và cũng có cái 1000 ngày mới phải lên dây lại. Ngoài việc khác nhau về dáng vẻ hoặc chất liệu như mặt men, mặt thiếc, mặt giấy, mặt gỗ còn có sự khác biệt nhau về âm thanh của tiếng gõ: có cái tiếng trầm đục, có cái gõ thanh, có tiếng nhanh, tiếng chậm, có tiếng của một đọan nhạc, có cái là những tiếng như tiếng phèng la, thùng vỡõ, có cái như tiếng chuông nhà thờ đổõ… Đồng hồ có niên đại cao nhất mà anh có là những chiếc được sản xuất vào thế kỷ 17, khi đồng hồ con lắc đầu tiên được chế tạo, có 10 cái sản xuất ở thế kỷ 18, còn lại đa số là vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

 Niềm say mê về những chiếc đồng hồ của anh Ngọc cũng bắt nguồn từ những ký ức tuổi thơ. Những ngày còn bé, rất nhiều buổi trưa anh không ngủ, chỉ chờ đợi để nghe cho được tiếng chuông ngân nga từ chiếc đồng hồ Odo của nhà hàng xóm. Tiếng chuông đó theo anh cho đến tận bây giờ, nó trở thành một kỷ niệm, một dấu ấn của thời gian. Và khi có điều kiện để lùng sục kiếm được những chiếc đồng hồ của riêng mình, để được nghe tiếng chuông của ký ức thì những chiếc đồng hồ đối với anh không phải là một đồ vật mà đó là một sinh mệnh, có hơi thở, có cuộc sống, đã chứng kiến nhiều con người đã đi qua, là chứng nhân của những hội ngộ và ly biệt, nhiều giây phút của lịch sử của một gia đình hay của một thế hệ, một dòng tộc.

Đỗ Duy Ngọc cho rằng có một sự giao thoa kỳ lạ giữa anh với những chiếc đồng tưởng như vô tâm ngày ngày tích tắc kia. Nếu không có mối liên hệ đó thì không bao giờ người ta có thể sung sướng khi nửa đêm, cả thế giới đang ngủ, một mình ta thức dậy, đốt đèn lên đi soi từng chiếc đồng hồ, nghe từng nhịp đập cuả con lắc như tiếng đập của trái tim trong lồng ngực và cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Tình cảm đó không phải bỗng dưng mà có được mà đó là kết quả của một quá trình tìm hiểu, chiêm nghiệm bằng một niềm say mê. Anh Đỗ Duy Ngọc và bộ sưu tập đồng hồ của anh đã được các Đài truyền hình trong nước giới thiệu trong các chương trình: “Mỗi tuần một nhân vật”, “Chào buổi sáng” và “Chuyện lạ Việt Nam”. Nhiều tờ báo và tạp chí trong nuớc cũng như ở nước ngoài đã viết nhiều về bộ sưu tập này. Một đài truyền hình của nước ngoài đang liên hệ với anh để quay một bộ phim về những chiếc đồng hồ anh đã sưu tập được vì ở Châu Á hiện nay chưa có bộ sưu tập đồng  h? cổ nào phong phú về chủng loại và có số lượng nhiều như vậy.

Nói chuyện với anh, người nghe dễ dàng được anh lật về các trang thời gian đã trôi qua. Anh Đỗ Duy Ngọc tâm sự: “Lòng yêu thích đồng hồ cổ được nhen nhóm từ thơ ấu nhưng cách nay gần 30 năm, tôi mới bắt đầu bắt tay vào gầy dựng được bộ sưu tập của mình”. Dường như sự yêu thích của anh Ngọc, ngược với thiên hướng mà gia đình muốn anh sau này đi vào. Anh cho biết: “Ba tôi vốn là thầy thuốc nên muốn trong gia đình có con theo học ngành y để nối nghiệp, nhưng ngay từ khi còn học tiểu học tôi đã say mê văn học nghệ thuật, đã mê mẩn lượm lặt những đồng tiền kim loại cổ. Những áng văn chương cổ, những đồng tiền xưa gợi cho tôi nhiều tưởng tượng về một thế giới cần khám phá, niềm say mê và trân trọng cái đẹp của cuộc sống. Và khi đến tuổi trưởng thành, tôi đã chọn con đường mà tôi đã ước ao”.

 Bắt nguồn từ niềm say mê và trân trọng cái đẹp

 Đỗ Duy Ngọc đã đi theo sở thích đã nhen nhóm từ nhỏ trong anh. Vì vậy, lớn lên khi theo đuổi việc học các chuyên ngành ở bậc đại học phù hợp với tính cách của con người mình thì trong anh cũng định hướng cho mình một lối đi, một cách nhìn riêng. Với Đỗ Duy Ngọc, mỗi nhà sưu tập đều đặt ra một tiêu chí cho riêng mình khi lao vào cuộc chơi tốn rất nhiều công của để tạo nên bộ sưu tập hiếm quý. Vì vậy, với anh tiêu chí đầu tiên và quan trọng là tính thẩm mỹ. Vật phải đẹp thì anh mới theo đuổi, bởi có đẹp thì mới gợi sự quyến rũ và làm cho người ta say mê. Chiếc lồng chim đẹp, cái đồng hồ đẹp, tiếng ngân vang điểm giờ hay tiếng tích tắc sẽ giúp cho người thưởng lãm quên đi những phiền muộn, những áp lực của công việc và những bộn bề lo toan của cuộc sống.

Anh Ngọc còn cho biết thêm là chiếc lồng đẹp phải là thuần túy bằng tre Tàu, chân và vành thân lồng phải liền nhau, quý nhất là lồng chim toàn làm bằng ngà voi, nhưng giá rất cao và cũng khá hiếm. Người thưởng thức được những lồng chim quý phải là người ngoài việc mê say cái đẹp còn phải là người phải có kiến thức nhất định về văn hóa, hội họa và điêu khắc, bởi chiếc lồng chim là một tác phẩm nghệ thuật và mang tính văn hóa dân gian qua nhiều tuồng tích. Tuy nguồn gốc những tích tuồng thường xuất phát từ văn hóa và văn học cổ Trung Quốc, nhưng từ lâu đã gắn bó với phong tục và tín ngưỡng của người Việt. Do vậy để hiểu hết giá trị của mỗi chiếc lồng, phải trang bị cho mình những kiến thức để việc thưởng thức được trọn vẹn và sâu sắc.

Những nghệ nhân dân gian làm nên những chiếc lồng chim tuy không tên tuổi nhưng nắm rất vững bố cục, hình khối, đường nét và tâm lý nhân vật nên thể hiện rất tài hoa những điển tích và diển tả được tính cách của từng nhân vật. Từ đó những chiếc lồng chim tưởng chừng như rất đơn giản nhưng là một tác phẩm và mang hơi thở của một nền văn hóa dược tạo tác bởi những bàn tay tài hoa của những nghệ nhân vô danh.

Là người làm công việc sáng tạo nghệ thuật và có nhiều bài viết về văn hóa và nghệ thuật Việt Nam, theo anh Ngọc người sưu tập không thể là người chỉ ham thích nhất thời mà phải là người kiên trì và bền chí mới có thể gầy dựng cho mình một bộ sưu tập có giá trị. Ngoài việc tốn nhiều tiền bạc và công sức, người sưu tập còn phải là người khám phá và tìm tòi cho được căn nguyên, nguồn gốc của những vật mà mình được sở hữu, đồng thời phải dùng những kiến thức của mình để phát hiện trong những vật ngổn ngang và lộn xộn những vật có giá trị giúp cho bộ sưu tập càng dày thêm.

Cách để nắm vững tốt nhất những bộ sưu tập, theo anh Ngọc là thông qua sách vở và những buổi lang thang giao lưu với nhiều người, nhiều giới khác nhau. Những kiến thức có được từ đó sẽ là những khám phá. Như anh Ngọc, kệ sách nhà anh đầy những sách, báo, tạp chí về đồng hồ, lồng chim, tượng và những sách viết về những cổ vật qua nhiều triều đại.

Hàng ngày, ngoài công việc để mưu sinh, anh Đỗ Duy Ngọc dành nhiều thời gian chăm chút từng chiếc lồng chim, lên dây cót cho từng chiếc đồng hồ… vì chúng giúp cho anh níu giữ được thời gian khi nghe tiếng thời gian, giúp cho anh thư giãn trước những bộn bề lo toan của cuộc sống, đồng thời chúng còn làm sống lại những năm tháng tuổi thơ của anh, những năm tháng đẹp nhất của đời người đã qua đi chỉ còn đọng lại trong tiếng ngân nga của những chiếc đồng hồ. Đó chính là niềm vui mà không phải ai cũng có được.

 

BÁO THANH NIÊN

“Bảo tàng đồng hồ” của Đỗ Duy Ngọc

01:08:00, 28/10/2007

Giao hưởng

Sau hơn 30 năm sưu tầm, ông Đỗ Duy Ngọc, 57 tuổi là người đang sở hữu bộ sưu tập nhiều đồng hồ nhất Việt Nam hiện nay.

Hiện ông đã có trong tay 617 cái đồng hồ chế tạo từ nhiều nước trên thế giới, trong đó có đồng hồ khá ngộ nghĩnh do Đức sản xuất cách đây 120 năm... Đó là đồng hồ treo tường với tượng hai tay bợm nhậu nho nhỏ lúc nào cũng đang cầm sẵn ly rượu trên tay. Họ ngồi trước mặt đồng hồ được tạo hình mỹ thuật y hệt như cửa ra vào của một tửu quán phương Tây thế kỷ 19. Nếu đồng hồ chỉ 6 giờ, hai bợm nhậu này sẽ cùng nâng ly lên 6 lần, chỉ 12 giờ hai bợm nâng ly chúc mừng 12 lần... Mỗi lần như vậy từ trong ruột đồng hồ sẽ tấu lên đoạn nhạc ngắn, âm thanh vừa đủ nghe, ý chừng để nhắc nhở riêng hai chàng rằng: “Thời gian vẫn đang trôi nhanh theo dòng Danube”! Một cái khác thuộc loại đồng hồ “cúc cu chalet”  với hình hai người nhỏ nhắn đang cưa một khúc cây, cưa qua cưa lại hoài hoài theo điệu đu đưa của quả lắc đặt bên dưới. Đứng cạnh là một người thứ ba cầm sẵn cây búa, hễ đúng giờ chim chạy ra cúc cu bao nhiêu tiếng người cầm búa ấy sẽ nện bấy nhiêu cái vào khoảng “không gian vô hình và thời gian vô hạn”.  

Có hơn 80 cái loại cúc cu tương tự, hoặc làm bằng gỗ (black forest) của Đức, hoặc có chim cú mèo tới giờ chỉ lắc lư chứ không hót của Nhật. Chất liệu của thùng đồng hồ bằng đồng, vàng, gỗ; mặt dùng ghi giờ bằng men, thiếc, hoặc giấy; dùng treo tường, để bàn, đeo tay, hoặc trang trí như đồng hồ tủ. Một trong những cái xưa nhất là đồng hồ quả lắc với thùng bằng gỗ chế tác từ châu Âu. Gần với văn chương có đồng hồ “nghìn lẻ một đêm” với các chi tiết mỹ thuật nhắc nhớ đến hoàng đế Aroun-al-Rachid và cô mỹ nữ có tài kể chuyện cứu người xưa kia. Còn đồng hồ ODO thường thấy ở các gia đình người Việt vào thế kỷ trước, cũng như dạng đồng hồ bát quái có tám cạnh để treo tường được các gia đình người Hoa ưa thích, cũng có mặt trong sưu tập phong phú của Đỗ Duy Ngọc.

Ông sinh năm 1950 tại Quảng Bình, lúc nhỏ ở Huế, trưởng thành tại Đà Nẵng và tốt nghiệp Đại học Văn khoa và Đại học Sư phạm Việt Hán tại Sài Gòn, học dở dang Đại học Mỹ thuật, triển lãm tranh hơn 30 năm trước và bước vào lĩnh vực sưu tập từ những năm đầu của thập niên 1970. Ban đầu ông chơi đồ sứ, đồ ngọc, đồ ngà, sau chuyển qua chơi đồng hồ vì theo ông môn chơi này “luôn nhắc nhở cho ta biết dòng thời gian không ngừng trôi để mình sống tốt hơn và có ích hơn trong mỗi giờ mỗi ngày”. Đến cách đây 4 năm (2003) khi Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam - VIETBOOKS (nay là Công ty kỷ lục VIETKINGS) cấp giấy chứng nhận kỷ lục cho ông, lúc ấy số đồng hồ ông sưu tập được ở khoảng 300 cái. Mới đây khi chúng tôi đến nhà ông vào giữa tháng 10.2007 số lượng ấy đã tăng lên gấp đôi với nhiều “chủng loại”. Loại chạy bằng quả tạ. Loại chạy bằng dây xích. Loại lên dây thiều bằng tay. Trong loại lên dây lại chia làm nhiều kỳ hạn. Như có cái cứ 1.000 ngày mới lên dây một lần. Song cũng có cái chỉ 365 ngày mới lên dây lại và chủ nhân có thể chỉnh ngày lên dây vào đúng ngày sinh của mình trong năm, nên được gọi là “đồng hồ sinh nhật”. Cái mới nhất ông đặt mua từ nước ngoài vừa gửi về, được ông đưa ra để chúng tôi xem, là do Hà Lan chế tạo 140 năm trước. 

Những đồng hồ xấp xỉ trăm năm nhiều lắm, như một loạt 6 cái kiểu ATMOS của hãng J.Lecoultre vận hành theo phương thức “air live” (hoạt động bằng không khí) mà khi vừa xuất xưởng hãng này dám tuyên bố bảo đảm độ bền tối thiểu 600 năm! Ông Ngọc nói làm sao mình sống tới đó để xem có đúng như lời “bảo hành” của hãng Lecoultre không? 

Tuy nhiên, ông bảo rằng, nếu tính độ bền thời gian sẽ thấy không thiếu những đồng hồ chạy bằng răng cưa, lên dây thiều, đã “sống lâu” hơn chủ nhân của nó rất nhiều. Một số đồng hồ Thụy Sĩ, Pháp, Đức nằm xếp xó trong đống đồ cũ, nhện giăng, bụi phủ, nhưng khi đem ra lau chùi, vô dầu trở lại, vặn dây lên, là chúng chạy ngon lành sau cuộc “cải tử hoàn sinh”. Để có bộ sưu tập công phu, tốn kém trên, ông cho biết “phải đi tìm và nhìn ngắm, chụp ảnh hàng triệu cái đồng hồ trong nước và nước ngoài, để chọn mua hoặc trao đổi lấy chúng”. Thấy Đỗ Duy Ngọc say mê chơi đồng hồ như thế, trong bạn hữu có người đã dùng ngôn ngữ của triết gia M. Proust để gọi ông là “người đi tìm thời gian đã mất” (A la recherche le temps a perdu). Nhưng với ông thời gian vẫn “tồn tại và được lưu giữ” trong ngôi nhà số 129B Nguyễn Đình Chính, phường 8, quận Phú Nhuận, TP.HCM - chỗ ông đang cư ngụ. Ở đó, đồng hồ hiện diện khắp nơi, từ cửa ra vào đến bàn làm việc, từ chỗ tiếp khách đến tầng lầu nơi ông có thể đứng nhìn qua khung cửa, để thấy một chút mây trôi miệt mài lãng đãng theo tiếng tích tắc từng giây không bao giờ trở lại...  

Giao hưởng

 

CHƠI CHO LỊCH MỚI CHƠI

BÁO SGTT
(Cẩm nang tiêu dùng tháng 10.2005)

"CHƠI CHO LỊCH MỚI CHƠI"

Nhiều người gặp, nhìn người đàn ông ấy ở nhiều khía cạnh khác nhau. Một hoạ sĩ. Một designer đắt show. Một gã đàn ông trầm lặng. Một kẻ kiêu hãnh đứng ngoài những đám đông. Và một gã “giang hồ mê chơi”. Đỗ Duy Ngọc nhận mình là kẻ vô danh, đang chơi những trò vô danh và tôn vinh những thứ vô danh và bị lãng quên...

 

Tôi là người đàn ông rất hiện đại nhưng rất phong kiến.
Tôi muốn giữ gìn rường mối nề nếp gia đình.
Nhưng lại là người dễ thích nghi với những thay đổi
mang tính thời đại. Lắm khi thấy mình cũng mâu thuẫn!”
(Đỗ Duy Ngọc)

“Trạm giam thời gian”

Vây quanh những lối đi trong căn nhà ấy là màu cũ của những mặt đồng hồ (xem bài Người đi tìm nhịp gõ thời gian trên CNTD số 16 - tháng 8.2005). Tiếng tíc tắc chạy dây cót của những kim giây nặng nặng, tiếng đổ chuông ngẫu hứng sau những mặt giờ phút lộn xộn không theo một múi giờ nào. Tượng đồng sạm màu thời gian rớt về từ thần thoại Hy Lạp cho đến nghệ thuật Phục hưng châu Âu “sống chung” với tượng Phật, thần tiên phương Đông hội trên những vách thơm mùi gỗ cũ. Xoắn theo cầu thang lên sân thượng là đong đưa lồng chim, treo lơ lửng trên đầu. Rồi theo ánh sáng tràn vào quanh chỗ nằm người đàn ông là lảnh lót tiếng chim...
Chủ nhân căn nhà - tay chơi siêu hạng ấy - nhắc lại câu nói: “Chơi cho lịch mới là chơi”. Lịch là gì? “Là chơi cái trò của một kẻ biết triết lý của cuộc chơi. Cái thiên hạ có tiền non bạt núi chắc chi đã chơi được!”. Cụ thể hơn chút nữa? “Chơi đùa với thời gian và sự tự do”. Có ai sướng hơn chuyện nằm giữa hơn 300 cái đồng hồ cổ từ những đời đầu Seiko, Omega... và xấp xỉ 500 mặt tượng xưa mà nghiền ngẫm cõi ngổn ngang nhân tình. Hẳn rằng, sẽ nghe trong nhịp tíc tắc kia nỗi thao thức lắng đọng của miền thời gian đã mất - một khái niệm của Marcel Proust mà Đỗ Duy Ngọc ưa dùng.
Mùi, màu và thanh âm trong “trại giam thời gian” đều cũ kỹ, cổ kính và có khi khiến người ta hình dung đến điều gì đó tưởng đã gỉ sét và những cõi miền lãng quên.
- Sao lại phải chơi? - Tôi hỏi.
- Chơi để thấy mình khác thiên hạ.
- Ông không sợ bị thiên hạ coi là “sống chậm”?
- Làm sao sống chậm được. Mình vẫn làm việc, sáng tạo và không cách ly đời sống. Nhưng trong cuộc chơi này, mình tự hào vì nhờ nó mà mình không bị hoà tan vào những bộn bề...

            Chơi đùa với tự do

Năm mươi chiếc lồng chim, có cái có chim kiểng từ nhồng, yến phụng, cúc cu... nhưng có cái treo chơi, chẳng để nhốt chim. Hành trình để có một cái lồng “đúng điệu” ở đây quả không đơn giản. Chủ yếu là lồng vẫn là lồng tre, nhưng làm bằng loại tre nan chỉ trồng được ở Trung Quốc. Cây tre này mọc cao 2-3m thì được chẻ, cho trầm xuống bùn như một cách xử lý tự nhiên để nan vót ra từ đó thêm dẻo dai và chống mọt.
Mua được những chiếc lồng đẹp, ông mang về và bắt đầu một hành trình khác, trang trí và “khoác lên tấm áo tinh thần” cho những chiếc lồng. Đó là những ngày tháng đi tìm kiếm và mua về những chi tiết chạm khắc từ nắp lồng cho đến các mảnh ngà voi tinh xảo, những đốt hoạ tiết, hoa văn mai điểu, trúc tùng lộc, tùng hạc... Từ đó, một cuộc sáng tạo mới của người chơi bắt đầu. Ông dành thời giờ đính chúng lên những song tre theo một tuồng tích và thống nhất theo một ý tưởng sáng tạo nào đó. Ba mươi lăm năm, ông Ngọc vừa “sáng tạo” xong 50 chiếc lồng chim. Mỗi chiếc là một tác phẩm kết hợp và kết nối những tác phẩm của biết bao bàn tay nghệ sĩ vô danh khác. Ông gọi tên chúng: La Hán, Mục đồng, Vạn lý trường thành, Bát tiên quá hải...
- Hay ho gì chơi lồng chim, một biểu tượng của cầm buộc sự tự do?
- Tôi yêu tự do thì mới chơi chúng. Hằng ngày, tôi ngồi ngắm chúng và thực sự thấy tự do trong tâm thức. Con chim trong lồng có sự tự do riêng của nó. Nó phải tự do thích nghi với hoàn cảnh trong lồng để sống và hót.
- Và chỉ thế thôi ư?
- Không. Tôi còn thấy trong đó lẽ sinh tử của cuộc đời. Tiếng hót là sự sáng tạo nối dài ý nghĩa cuộc sống của loài chim. Cũng như người ta... nhiều khi cũng học ở con hoạ mi sự quân tử. Với loài chim này, lãnh địa sẽ thuộc về những kẻ có tài và có sức hót hay. Còn con chích choè lửa thì buồn đến mấy cũng ngửa cổ lên trời hót chơi... Vậy đấy. Người ta chắc gì được thế!

Làm thằng đàn ông trong đời

Phiêu dạt nhiều. Quê Quảng Bình, lúc nhỏ ở Huế, lớn lên ở Đà Nẵng, 17 tuổi vào Sài Gòn tự kiếm tiền đi học. Thành tích vui hồi nhỏ: có ông bố là bác sĩ, nhà nhiều sách nên thừa hưởng cái gien ham đọc. Đọc đến ngộ chữ. Nhiều lần trốn vào nhà vệ sinh đọc sách bị phát hiện, đánh đòn. Vậy mà không chừa. Vào đại học, ông lại mê Tự lực văn đoàn, Hàn Mạc Tử, đến Balzac, Molière, S. Exupéry, A. Tchékhov...
Thập niên 60-70 thế kỷ trước, chàng thanh niên miền Trung kiếm tiền học đại học bằng cách làm vệ sinh nhà in, bán báo dạo, sửa morasse, trình bày, in ấn... để lấy mấy cái bằng: Văn khoa Sài Gòn, ban Việt Hán - ĐH Sư phạm rồi khoa báo chí Vạn Hạnh.
Sau đó, ông cầm phấn dạy hội hoạ, văn, làm thơ, vẽ rồi neo lại với designer. Đỗ Duy Ngọc trở thành một tên tuổi thiết kế bìa sách uy tín tại TP.HCM. Bao nhiêu tiền từ thiết kế bìa và làm sách được ông dùng vào thú chơi tao nhã mà, dưới mắt nhiều người là hơi bị “lập dị”. “Chơi để tránh xa sự bát nháo. Trở về trung thực với chính mình là điều cần thiết. Tôi luôn hoàn thành trách nhiệm với vợ con và tôi nhận được sự trân trọng của vợ con trong cuộc chơi củamình”, ông khẳng định. Bàn chuyện đời và chuyện chơi với nhân vật này dường như là hợp nhất. Hợp nhất trong cuộc chơi tìm kiếm câu trả lời về bản chất của cuộc sống: giá trị thực giữa cõi lãng quên này là gì? “Hình như hôm nay, những giá trị sống cũ bị đảo lộn. Nhưng những giá trị mới chưa hình thành. Quan hệ người - người bị phá vỡ. Tìm cho mình một góc riêng giữa trò chơi lớn cuộc đời này là điều thú vị để ngẫm nghĩ và là thái độ sống bên những phút giây dấn thân sống với công việc, trách nhiệm và những âu lo!”. Người đàn ông tuổi ngấp nghé 60 nhưng trẻ trung với búi tóc dài và thân hình săn chắc nói với tôi.Tôi muốn gọi ông là kẻ canh giữ “trại giam thời gian”. Và về mặt nào đó, có khi trò chơi ấy cũng chỉ là trò chơi cái vô danh giữa ngổn ngang đời sống. Nhưng mua cho được cái hồn hậu và lịch lãm của “thói chơi” ấy mới là khó!

                                                                                          Nguyễn Vĩnh Nguyên
                                                                                                      Ảnh: A.Q

BÁO NGƯỜI LAO ĐỘNG NGÀY 1.9.2006

Say tiếng thời gian
01-09-2006 22:24:30 GMT +7

            Ông Đỗ Duy Ngọc bên cạnh những chiếc đồng hồ cổ

“Không ai thắng được 2 cây kim đồng hồ! Tôi nghe nhịp thời gian để cảm nhận và chiêm nghiệm cuộc sống, để biết nâng niu những cái đẹp, cái hay, cái phải ở đời. Đừng bỏ phí thời gian, đừng làm những điều quấy, sống sao mà không phải hối tiếc”- nghệ sĩ Đỗ Duy Ngọc nói

Ông Đỗ Duy Ngọc, 58 tuổi ở quận Phú Nhuận - TPHCM, người vừa được sách Kỷ lục Việt Nam xác nhận có nhiều đồng hồ cổ nhất Việt Nam với 477 chiếc đồng hồ quý, hiếm có niên đại từ thế kỷ 17, 18. Ngoài ra, ông còn có nhiều thứ quý, độc như 70 chiếc lồng chim các thời vua chúa; 500 món sứ có niên đại 1.000 năm, 600 món đồ đồng cổ, 200 món ngà và chưa kể đến mấy chục món ngọc khối.

Trân trọng tài hoa cổ nhân

Để có được bộ sưu tập độc đáo này, bàn chân ông đã rong ruổi khắp các vùng miền trong và ngoài nước suốt 35 năm. Ông ví mình như dân đỏ đen mê cờ bạc, ở đâu có sòng, có cá độ... không đến là không chịu nổi. Ví là ví vậy, ông đi nhiều, lại là một trí thức khá thành danh trong làng văn nghệ sĩ (ông tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật và Đại học Văn khoa Sài Gòn, từng là nhà giáo, nhà thơ nhưng rồi ông nghỉ ngang, trở thành họa sĩ trình bày bìa sách tự do và khẳng định được mình trong lĩnh vực này), cách chiêm nghiệm cuộc sống rất sâu sắc và đầy tính triết lý.

Chơi không phải để ngông hay khoe mẽ như ta vẫn thường bắt gặp đâu đó, Đỗ Duy Ngọc thực sự say tiếng thời gian. Nhịp đời thổn thức qua từng nốt nhạc binh... bong khiến tâm hồn người nghệ sĩ tài hoa đầy trăn trở. Ông bảo: “Cuộc đời con người thật ngắn ngủi, tại sao nhiều người không nhận ra và trân trọng bản thân, sống hữu ích và sẻ chia hơn?”.

Săn tìm và “say” với thú chơi tao nhã này từ khi còn là một chàng trai trẻ, đến nay tóc ông đã ngả màu năm tháng. Có những món đồ quý, hiếm có thể định giá được và cũng có món không thể nào định giá. Ông nói về công trình tâm huyết của mình nhẹ nhàng mà thâm thúy, khiêm nhường: “Sở dĩ lâu nay tôi giấu vì không muốn ai biết đến. Nhưng nghĩ lại mình may mắn sở hữu được những thứ chung của mọi người thì nên chia sẻ. Nếu ai hỏi tôi đã bỏ ra bao nhiêu tiền cho cuộc chơi này thì xin mạn phép nói rằng tôi không nghèo nhưng chưa hẳn đã giàu. Nhiều món đồ tôi tậu được là nhờ kiên trì săn đuổi. Nếu có tiền là mua được thì chắc chắn nhiều người mua được nhiều thứ hơn tôi. Tôi không quý khối ngọc, khối vàng cổ trong mỗi món đồ mà tôi trân trọng, nâng niu sức lao động của những bàn tay tài hoa mà người xưa kỳ công làm ra”.

Ông cất công lặn lội sưu tập để chơi, tìm hiểu và chiêm nghiệm, có mua mà không bán bao giờ. Chính vì vậy mà bộ sưu tập của ông không chỉ đa dạng mà chẳng “đụng hàng”. Từ chiếc đồng hồ chạy bằng những viên bi (Mỹ), những chiếc đồng hồ tính thời gian theo chu kỳ mặt trăng, đồng hồ cúc cu, đồng hồ quả lắc bằng tượng Joséphine - vợ của Napoléon... hầu hết được sản xuất bởi những hãng danh tiếng như Seiko, Omega, Hamilton. Hay những chiếc lồng chim cổ đẹp lạ thường. Hầu hết được làm từ một loài tre quý, họa tiết hoa văn chạm trổ hết sức tinh xảo như “mai, lan, cúc, trúc”, “thập bát la hán”, trận Xích Bích trong truyện Tam quốc diễn nghĩa, Võ Tòng đả hổ...

Chọn lối đi riêng

Có lẽ, vì nghe và thấu hiểu được nhịp đập thời gian nên Đỗ Duy Ngọc yêu tha thiết và quý trọng từng khoảnh khắc của cuộc sống này. Từ một cậu bé sinh ra trong thời loạn lạc của dải đất miền Trung, 7 tuổi ông đã mê sưu tập và coi đây như một thú vui, một cách giải trí hiệu quả và cũng là cách để giữ mình trước biến động thời cuộc. Năm 17 tuổi ông vào Nam, bắt đầu cuộc sống tự lập với những hoài bão cho nghiệp đèn sách. Cuộc sống không giản đơn, Đỗ Duy Ngọc lăn lộn với đủ nghề để sinh tồn. Ông từng đi bán báo dạo, sửa morasse cho nhà in. Vừa làm vừa học, cuối cùng giấc mơ của ông đã thành hiện thực: Khoác áo sinh viên của 2 trường đại học.

Sáng tạo, miệt mài với công việc nhưng như một con ngựa bất kham, say những miền đất lạ, Đỗ Duy Ngọc đã mạnh dạn chọn cho mình lối đi riêng để thỏa sức vẫy vùng - làm nghệ thuật tự do.

Khi tôi hỏi ông lý do làm nghề tự do, ông cười, thư thả bảo rằng: “Cuộc đời rất ngắn ngủi, tôi muốn tự do làm chủ và sống với những gì mình yêu thích trong khoảng thời gian mà tạo hóa ban cho”.

Đam mê đến tận cùng, đột phá và ương gàn trong lĩnh vực nghệ thuật là thế, nhưng Đỗ Duy Ngọc thật dễ mến giữa đời thường. Ông là một người chồng biết quan tâm, chia sẻ; một người cha biết lắng nghe, tôn trọng những ý kiến và biết khơi dậy tài năng, truyền cho con ngọn lửa sáng tạo. Thực sự ông đã làm chủ thời gian cuộc đời mình với một gia đình hạnh phúc, các con sớm thành đạt, con trai đầu làm việc cho một công ty nước ngoài, con trai thứ là diễn viên điện ảnh Huy Khánh và con út đang học phổ thông.

Không chỉ có thơ, văn, giới nghệ sĩ biết nhiều đến ông ở lĩnh vực hội họa. Riêng ở lĩnh vực trình bày bìa sách, Đỗ Duy Ngọc là một cây cọ tài hoa. Ông đã vẽ bìa và trình bày cho hơn 2.000 cuốn sách.

Bài và ảnh: Bích Hà

 

VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

NGHE TIÊNG THỜI GIAN, NGHE CẢ TIẾNG LINH HỒN
BÁO THANH NIÊN ngày 13.3.2003

Ở Sài Gòn, có nhiều người đam mê thú chơi đồ cổ, nhưng chơi sưu tập đồng hồ và đồ cổ như họa sĩ Đỗ Duy Ngọc thì thật đáng nể. Ngôi nhà xinh đẹp của anh ở một con đường yên tĩnh mang tên Nguyễn Đình Chính, quận Phú Nhuận, bước vào là một khoảng sân thoáng mát có cây ivy (cây thường xuân) xanh quanh năm leo kín bờ tường rào.
Trong nhà, từ phòng khách đến cầu thang lên các lầu, tôi ngỡ ngàng đến bàng hoàng vì toàn đồng hồ cổ, đồ sứ cổ và hoành phi, câu đối, lồng chim vô cùng quý, hiếm, độc đáo...
Họa sĩ Ngọc đang chơi hàng ngàn món đồ cổ. Trong đó nổi bật là 520 chiếc đồng hồ đủ loại, đủ kiểu bằng đồng, bằng kim loại tráng men, kim loại đặc biệt... (có loại 1.000 ngày mới phải lên giây, có loại chạy bằng không khí, không phải lên giây...); 500 bình sứ, tượng sứ cổ; 400 món đồ cổ bằng đồng; 40 món bằng ngọc và vài chục món bằng ngà. Ngoài ra còn tranh khảm xà cừ óng ánh bảy màu; liễn, câu đối, hoành phi, bình phong và nhiều đồ gỗ quý... có niên đại từ 90 năm trở lên.
Ngọc giới thiệu với tôi lai lịch từng chiếc đồng hồ làm thủ công, từ thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, mặt tráng men, vỏ ngoài là những pho tượng bằng đồng. Đó thật sự là những tác phẩm điêu khắc cao cấp xuất xứ từ Đức, Pháp. Đồng hồ treo tường hay để bàn thì Đức là số một (Thụy Sĩ chỉ nổi danh với đồng hồ đeo tay). Anh bảo: "Ai đã mê chơi thứ này rồi thì chả thiết gì những thú vui trần thế khác!". Thảo nào, đã lâu lắm tôi không thấy Ngọc xuất hiện ở những tụ điểm (như 81 Trần Quốc Thảo, Q.3 chẳng hạn) mà giới họa sĩ, văn nghệ thường ngồi tào lao, uống bia với nhau. Anh nói: "Ngoài thời gian làm việc ở xưởng vẽ, tôi lao vào sưu tập đồng hồ, đồ cổ, mê đến mức chả thiết nhậu nữa! Tuổi anh em mình, đâu còn uống được nhiều như cách nay vài năm! Tôi mê đồ cổ, có khi còn hơn cả ngày xưa mê người đẹp. Nghĩa là cũng tương tư, cũng thổn thức, cũng mất ngủ quên ăn. Một lần, tôi được dẫn tới xem một chiếc đồng hồ có tuổi gần 200 năm. Tuổi cao, quý đã đành, nhưng chiếc đồng hồ này hình như được chế tác theo đơn đặt hàng, rất độc. Nó thật sự là một pho tượng nghệ thuật vô cùng sinh động. Chủ hàng nói giá quá cao, tôi quyết mua nên trả sát giá, họ vẫn không bán. Tôi mất nửa ngày ngẩn ngơ bên chiếc đồng hồ này, rồi ra về, định bụng ngày mai sẽ mang tiền tới mua. Nào ngờ tôi bận công việc đột xuất, ba ngày sau mới tới được thì... ván đã đóng thuyền rồi! Không mua được chiếc đồng hồ ấy, tôi tiếc đến... quên cả đường về nhà, thay vì quẹo tay mặt đi về hướng đông để về Phú Nhuận, tôi lại quẹo tay trái, đi tuốt xuống Phú Lâm, quận 6! Cả tuần lễ sau, tôi cứ như người mất hồn...
- Người đàn ông, khi đã phải lòng một cô gái, dù cô ấy không đẹp tuyệt vời, ta cũng cứ nghĩ là cô ấy đẹp nhất trần gian này! Anh có quá yêu, quá mê đồng hồ mà nói vậy chăng ?
Họa sĩ Ngọc nhìn tôi, không trả lời ngay... Bỗng hàng chục chiếc đồng hồ đổ chuông. Tiếng chuông vang lên, ngân nga, mỗi chiếc đồng hồ đánh chuông theo một âm vực khác nhau, chỉ có thể cảm nhận được chứ khó mà tả được ! Những con chim quý trong lồng son nghe chuông đồng hồ cũng đua nhau hót đáp lại ! Chờ dứt những tiếng chuông, tiếng chim, Ngọc nhìn như hút vào những chiếc đồng hồ của mình: "Chúng đang trò chuyện với tôi! Với tôi, những chiếc đồng hồ không còn là máy móc, không là vật vô tri. Nó như một sinh vật, biết rung động, hỉ nộ ái ố như người ! Những chiếc đồng hồ cổ là cả một thế giới cuốn hút tôi. Tôi chìm trong nó, nó thấm trong tôi, như tri âm, tri kỷ. Đồng hồ là cái máy đo thời gian, vậy mà không một chiếc đồng hồ nào đồng giờ nhau, không một tiếng chuông đồng hồ nào ngân nga giống nhau ! Mỗi đồng hồ như một cá thể, có cá tính, có bản sắc riêng, và niềm khát khao riêng ! Anh thấy đó, chỉ cần đụng nhẹ tay ta vào quả lắc đồng hồ là nó đứng liền, cơ thể đồng hồ chẳng khác chi sự sống. Sự sống rất mong manh, dễ bị tổn thương lắm! Trong tiếng tích tắc của đồng hồ, tôi cảm nhận được mạch máu, nhịp tim của một cơ thể đang đập, đang hiện hữu, đang làm việc, đang vui thú và cống hiến cho cuộc đời... Một điều ngẫu nhiên mà chưa chắc ai cũng để ý: Nhịp tim lý tưởng cho một vận động viên là 60/phút, nó tương đương với 60 giây là một phút của đồng hồ! Ra thế ! Từ ngàn xưa, người ta đã nghĩ ra những điều vĩnh hằng rồi ! Đêm đêm, khi tĩnh tâm, nghe nhịp đồng hồ, nhịp thời gian đi, tôi ngộ ra một điều là: Tất cả đều có tâm hồn, linh hồn. Đồng hồ là thế! Cái tâm của nó sáng lắm. Nghề chơi quả là lắm công phu ! Cụ Nguyễn Du đã viết thế trong Truyện Kiều"!
Một hôm họa sĩ Ngọc đến tôi chơi. Tôi mở một chai rượu ngon, anh chỉ uống đúng một ly. Tôi hỏi:
- Anh mê đồng hồ, đồ cổ đến bỏ cả rượu?
- Không, do sức khỏe thôi mà !
- Tôi đã từng xem tranh của Bửu Chỉ vẽ đồng hồ. Anh Ngọc có thích không?
- Thích ! Thời tôi còn là sinh viên, tôi đã mê tranh của Savaldor Dali (Tây Ban Nha). Họa sĩ này được người ta xếp vào trường phái Đađa. Ông Savaldor vẽ cái đồng hồ dị dạng, như đang chảy ra... Càng ngắm bức tranh này, người xem càng liên tưởng đến cuộc đời và số phận của từng kiếp người, hơn thế nữa, người ta ngộ ra cái vô hình mới là vĩnh hằng, cái có thể cầm nắm được chỉ là hữu hạn !
- Thú chơi sưu tập đồng hồ, đồ cổ có giúp gì cho nghề họa của anh?
- Tuyệt vời lắm ! Nó bồi bổ sự nhạy cảm, nó là nguồn cảm hứng ! Tôi ngộ ra nhiều chuyện lắm ! Từ lịch sử tiến hóa của nhân loại, văn hóa từng vùng, từng dân tộc, đất nước, con người, thời đại, nhân tình thế thái, thân phận người nghệ sĩ chế tác ra những sản phẩm đó... Những gì người xưa tâm huyết được hiển hiện trong giá trị vĩnh hằng của tác phẩm nghệ thuật. Theo tôi, giá trị nhất là họ đã truyền cái hồn của họ vào tác phẩm. Giá trị về phần hồn, theo tôi mới là giá trị lớn nhất của đồ cổ, bên cạnh giá trị niên đại và nghệ thuật. Ngày nay, một món đồ gọi là nghệ thuật, liệu có mấy giá trị phần hồn ?

Triệu Xuân

(nhà văn)

 

 

 

 

BÁO CÔNG AN

Ngôi nhà thời gian

Nằm trên một con đường nhỏ ở quận Phú Nhuận, ngôi nhà của họa sĩ Đỗ Duy Ngọc tĩnh lặng trong cái ồn ào náo nhiệt của thành phố. Nhìn từ ngoài vào, trừ một không gian rất xanh hoa lá cỏ cây, ngôi nhà không có gì đặc biệt so với xung quanh nhưng khi cánh cửa gỗ nhỏ mở ra thì đó là một thế giới khác hẳn.

Thế giới cổ tích của  đồng hồ với hàng trăm cái lớn bé chen chúc nhau khắp nơi: phòng khách, cầu thang, phòng ngủ thậm chí cả trong nhà bếp và... toillet. Ở bất cứ đâu trong ngôi nhà, khách cũng có thể nghe tiếng thời gian rơi tí tách.

350 chiếc đồng hồ đủ loại là công trình hơn 30 năm lặn lội khắp nơi của họa sĩ Đỗ Duy Ngọc. Chỉ cần nghe loáng thoáng ở đâu đó có một chiếc đồng hồ lạ thì dù xa xôi mấy, anh cũng đi cho bằng được. Tìm ra vật quý rồi, làm sao mua là cả một vấn đề bởi có những vị chủ nhân yêu chúng còn hơn yêu bản thân mình, thuyết phục họ bán lại khó bằng lên trời. Lúc đầu gian nan thế nhưng nhiều trường hợp sau một thời gian làm bạn, có người trao cho anh chiếc đồng hồ quý mà không chịu nhận một đồng bởi: “Nó về với anh hợp hơn ở cùng tôi”. Chiếc đồng hồ bên cạnh bỗng vang lên tiếng kêu khẽ như tiếng kẹt cửa, hai chú bồ câu nhỏ xíu xuất hiện cất tiếng “cúc cu... cúc cu...” rồi biến mất, một bản nhạc vang lên thánh thót cùng tiếng chuông điểm giờ. Cứ như thế, ngôi nhà khi nào cũng rộn rã tiếng nhạc, nhạc của Beethoven, nhạc của Moza, nhạc nhà thờ Wesmingter, bản Ave Marya... Chừng ấy bản nhạc nhưng mỗi chiếc đồng hồ có một âm sắc riêng mà thoáng nghe anh biết ngay đó là âm thanh của chiếc nào. Với anh: “Mỗi chiếc đồng hồ có một đời sống riêng, một sinh mệnh riêng”. Anh bảo: “Sức sống của chúng mãnh liệt vô cùng. Có những chiếc khi tôi tìm thấy, chúng chỉ là một khối cũ rích phủ đầy bụi bặm, vậy mà đưa về lau sạch, tra dầu mỡ là lại bắt đầu vui vẻ gõ giờ. Số phận của chúng cũng như một con người, khi sung sướng nằm trong phòng khách sang trọng, khi chấp nhận hẩm hiu trong nhà kho”. Tiếng chim khuyên vẫn ríu rít ngoài hiên, anh đứng lên kéo  mấy quả thông đen bóng lên giây chiếc đồng hồ lớn rồi lặng yên nghe nhạc.

Công việc của một họa sĩ khá tất bật với sáng tác nhưng Đỗ Duy Ngọc luôn có thời gian dành cho những người bạn đồng hồ của mình, điều tưởng như rất nhỏ ấy đem lại niềm vui cho anh. Mỗi chiếc đồng hồ chênh nhau một vài giây như sự cố ý của chủ nhân và bản nhạc trong nhà anh luôn bất tận như sự bất tận của thời gian, không có khởi đầu và không kết thúc. Thỉnh thoảng một chiếc đồng hồ thả rơi tiếng điểm giờ, anh bảo: “Nó nhắc nhở tôi ta đang sống giờ đây cõi này. Sống với đầy đủ ý nghĩa của cuộc sống chứ không phải tồn tại”.

Bài, ảnh: Ngọc Anh

 

BÁO NGƯỜI LAO ĐỘNG

Những lồng chim độc đáo

31-08-2005 21:40:33 GMT +7

 

 

nh Ngọc dẫn giải: Những chiếc lồng này hầu hết được làm bằng tre có nguồn gốc từ Trung Quốc. Đây là thứ tre được trồng chỉ để dành riêng cho việc làm lồng chim

Bước vào nhà anh Đỗ Duy Ngọc nằm trên đường Nguyễn Đình Chính, quận Phú Nhuận - TPHCM, tôi có cảm giác như lạc vào một thế giới cổ xưa bởi nhìn đâu cũng thấy những cổ vật gốm sứ, đồng hồ, lồng chim... Chúng có mặt từ cửa sổ đến chân cầu thang, từ phòng khách đến mái hiên...

Những tác phẩm nghệ thuật

Lạ nhất là những lồng chim. Hiện anh Duy Ngọc có trên 70 lồng chim, trong đó hơn 50 lồng thuộc loại quý hiếm. Mỗi lồng chim có hình dáng, chạm khắc khác nhau. Đây chính là nét độc đáo nhất của bộ sưu tập lồng chim có lẽ duy nhất ở Việt Nam của anh Ngọc. Anh Ngọc từng dạy học, làm thơ, hiện là họa sĩ trình bày bìa sách. Có lẽ nghề nghiệp đã giúp anh có cái nhìn sâu hơn về nghệ thuật. Anh nói một lồng chim đẹp trước hết phải có chân lồng đẹp, chạm khắc tỉ mỉ. Tất cả những chân lồng tại nhà anh đều được chạm khắc theo tuồng, tích cổ Trung Quốc nhưng không xa lạ với người Việt Nam, như “Kết nghĩa vườn đào”, “Quan Công phò nhị tẩu”, “Trận Xích Bích”, “Lưu Bị ba lần mời Khổng Minh”..., hay “Bát tiên với những vật dụng cầm tay”, “Bát tiên quá hải”, “Cùng hội tiên” hoặc “Thập bát La Hán”... Đặc biệt là những mô-típ tranh dân gian quen thuộc như “Mai điểu”, “Tùng hạc”, “Mẫu đơn-sen ấp”...

Chiếc lồng 100 năm tuổi

Anh Ngọc dẫn giải: Những chiếc lồng này hầu hết được làm bằng tre có nguồn gốc từ Trung Quốc. Đây là thứ tre được trồng chỉ để dành riêng cho việc làm lồng chim. Nghề làm lồng chim cũng rất công phu. Khi tre mọc cao được vài ba đốt thì được chặt ngọn, làm vậy thì đốt tre mọc lên sẽ to, đợi khi tre già đốn đi rồi ngâm nước, xử lý mối mọt. Để vậy 2-3 năm sau, các nghệ nhân mới làm lồng và chạm khắc.

Tuy nhiên, để lồng đẹp toàn diện đòi hỏi những vật dụng kèm theo phải đồng bộ, cũng đẹp như lồng. Những chiếc hộp bé bé, xinh xinh dùng để đựng thức ăn và nước uống cho chim cũng có hoa văn, họa tiết cùng chủ đề với chân lồng. Đặc biệt hơn, trên thân lồng còn trang trí những hình ảnh, hoa văn, chữ Hán được khắc bằng ngà voi có cùng chủ đề với chân lồng.

Chiếc lồng chim quý nhất của anh Ngọc là lồng chim cổ Việt Nam chạm khắc hoa trái có hơn 100 năm tuổi. Anh cho biết đó là chiếc lồng của một quan huyện dưới triều nhà Nguyễn, đã được lưu truyền nhiều đời con cháu rồi mới tới tay anh hơn 30 năm nay. Còn cặp lồng chim chạm “Mục đồng chăn trâu” với cảnh đồng quê yên bình của Việt Nam cũng thật ấn tượng. Hiện nay, giá trị của lồng chim không thể tính được bằng tiền. Anh Ngọc cho biết anh đã từng mua chiếc lồng làm bằng ngà trị giá gần 7.000 USD.

Xua tan nỗi buồn, cực nhọc

Tiếng chim hót có thể làm người nghe trút bớt những cơn mệt nhọc, xua tan đi những nỗi buồn và tìm cho mình ý tưởng, niềm vui và những điều thú vị trong cuộc sống... Từ đó, anh Ngọc còn có thú nuôi chim và huấn luyện cho chúng hót, nói theo ý mình. Hiện tại anh có trên 30 con chim họa mi, vành khuyên, sáo, nhồng có giọng hót ngọt ngào, thánh thót hoặc nói được tiếng người. Thấy khách, một con nhồng “hát” tặng tôi bài “Cháu lên ba” khiến tôi trố mắt nhìn vì quá ngạc nhiên và thán phục. Anh Ngọc quan niệm: Những thú chơi vô bổ rồi sẽ mất đi trong khoảnh khắc, nhưng đồ cổ, vật dụng mình yêu thích sẽ tồn tại mãi với thời gian.

Bài và ảnh: Sơn Nhung

 

TẠP CHÍ TRUYỀN HÌNH VTV

Văn hoá và Cuộc sống

 

Ông vua của "Vương quốc thời gian"

 

Căn nhà ken đặc đồng hồ. Đi đến đâu trong ngôi nhà, cũng đều nghe thấy tiếng thời gian trôi.

 

Ngôi nhà của thời gian

Đó là hình ảnh căn nhà số 129B Nguyễn Đình Chính, phường  8, quận Phú Nhuận của hoạ sĩ Đỗ Duy Ngọc (cha của người mẫu, diễn viên Huy Khánh). Anh là một người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật: hoạ sĩ, thiết kế, viết văn, làm báo vẽ tranh, vẽ bìa sách…vậy mà tác phẩm để đời của anh lại là bộ sưu tập đồ cổ, đặc biệt là đồng hồ cổ! Anh đã bỏ ra hơn nửa đời người để theo đuổi và tìm kiếm, kết quả thật xứng đáng cho những gì anh đã bỏ ra. Trung tâm sách Guide Book của Châu A đã ghi nhận anh là người có nhiều đồng hồ cổ nhất Việt Nam (500 chiếc).

Với công việc chính là họa sĩ và vẽ bìa sách, anh cũng có được nhiều thành công. Vẽ bìa sách từ năm1972, tới nay anh được xem là “một trong những người vẽ bìa sách nhiều nhất Việt Nam”. Được biết, kỷ lục Guiness về người vẽ bìa sách  nhiều nhất Việt Nam cũng sẽ được công bố trong năm nay v anh l một trong những ứng vin sng gi nhất trong kỷ lục ny. Nhưng điều thú vị vẫn dành cho bộ sưu tập đồng hồ của anh. Tiếng lành đồn xa - mới đây, đài truyền hình danh tiếng của Hàn Quốc là MBC đã sang làm phim phóng sự về anh và bộ sưu tập, chương trình đ được phát trong tháng 7 vừa qua tại Hàn Quốc. Anh cho biết thêm: “Sắp tới, một đài truyền hình của Pháp sẽ làm phóng sự về bộ sưu tập này”.

 

Có một vương quốc như thế…

 

Để có được bộ sưu tập như hôm nay, anh Ngọc đã lang thang đến cả Đức, Pháp, Thuỵ Sĩ… để mua những đồng hồ mà mình ưng ý nhất. Anh có tất cả các loại đồng hồ quý hiếm đủ chủng loai, kiểu dáng, cấu trúc và niên hiệu. Cái cổ nhất hiện nay anh sở hữu “ra đời” vào thế kỷ 17 (chiếc đồng hồ của Pháp) và phần lớn những chiếc còn lại được “sinh” vào thế kỷ 18-20 như chiếc đồng hồ màu  xanh Trung Quốc thời Nhà Thanh, một dãy đồng hồ chim cu Đức lớn nhỏ khác nhau, dãy đồng hồ chim cu Nhật… Đồng hồ được treo khắp mọi nơi trong nhà, nơi nào có tường là treo, phòng ăn, phòng ngủ, thành cầu thang, thậm chí cả trong toilet cũng có cả một dãy đồng hồ…

 

Người đi tìm thời gian

 

Đỗ Duy Ngọc bắt đầu sưu tập đồng hồ cách đây15 năm (vào năm 1990), không chỉ đơn thuần nó là một thú vui tao nhã mà bởi những chiềc đồng hồ đã trở thnh những kỷ niệm sâu sắc trong suốt cuộc đời. Có những chiếc đồng hồ anh Ngọc phải bỏ ra cả 4 năm trời ròng mới “nằn nì” mua được. Anh kể: “Có lần tôi lân la thuyết phụ một chủ nhà bán lại chiếc đồng hồ cổ mà đối với họ là “vật gia truyền” của cha ông để lại. Tôi năn nỉ, thuyết phục và rồi chúng tôi trở thành… bạn của nhau. Cuối cùng tôi cũng mua được, vì chủ nhà bảo, “ông giữ chiếc đồng hồ này chắc tốt hơn tôi vì ông có kinh nghiệm”…

Như tác phẩm“ Đi tìm thời gian đã mất” của nhà văn Pháp Marcel Proust, ý niệm về thời gian luôn hiện hữu và rõ ràng nơi đây. Với anh Ngọc đồng hồ luôn là những người bạn tâm giao, “Khi con người ta vui, buồn, hờn, giận… kim vẫn lướt đi theo quy luật của nó. Níu thời gian lại là để nghe tiếng thời gian đi, để biết được giá trị của nó mà sống cho tốt.”

                           
                                                                                           Vũ Hoàng - Quỳnh Chi

VIỆT BÁO WEEKEND SỐ 197 RA NGÀY 15.5.2006
BÁO DOANH NHÂN SÀI GÒN CUỐI TUẦN ĐĂNG LẠI

VÀI NÉT VỀ MỘT TAY CHƠI ĐỒ CỔ CỦA SAIGON...
“VUA ĐỒNG HỒ” đặt chân đến Mỹ tìm đồ cổ!


Học trung học kỹ thuật Huế, mò vào Saigon vào Cao đẳng Mỹ Thuật. Bỏ ngang sau 2 năm, lại theo môn Triết đại học văn khoa Saigon, rồi môn cổ ngữ Hán văn Vạn Hạnh. Học, làm, dạy kèm, rồi vẽ,lang thang, rồi học. Cuộc sống “giang hồ” như nhiều thanh niên Miền Trung cùng thời ấy trên đất hoa lệ Saigon, mà hậu vận lại “không đến nỗi nào” nói theo lời tâm sự của chính đương sự: tay sưu tầm đồ cổ Đỗ duy Ngọc. Ông tốt nghiệp cử nhân Việt Hán, trở thành ông thầy giáo gõ đầu trẻ được mấy năm, lại bỏ ngang nghề mô phạm, sống với cây cọ và tranh sơn dầu.
Những chặng đường tưởng là “dở dở ương ương”, theo giòng đời đưa đẩy, ông vào nghề làm bìa sách cho các nhà xuất bản Saigon, và “phất” nhanh! Đài truyền hình Saigon từng giới thiệu họa sĩ Đỗ duy Ngọc đã trình bày ngót 3,000 bìa sách cho các nhà xuất bản Văn Học, Văn Nghệ, PP/HCM, Trẻ, KHXH, Đà Nẵng, Tự Điển VN, ..v.v. Ông đi du lịch lung tung từ Tây Tàu, Nhật, và tuần qua, người ta thấy co mặt ở Phước Lộc Thọ, ngay trung tâm thương mại Quận Cam.
Đỗ duy Ngọc, trông dáng dấp phảng phất nét ước lệ của người họa sĩ và đôi nét giang hồ, một thứ giang hồ của những tay chơi “có của”.
–“Thì người ta vẫn gọi tôi là họa sĩ ấy mà !”, tay sưu tầm đồ cổ 56 tuổi này cười với tôi bên bàn cà phê sân trước Phước Lộc Thọ, nơi anh ta đang được Thầy cũ cùng bằng hữu trường Kỹ Thuật Huế đón tiếp, trong đó có vài người tôi biết tên: Gs Lê đình Thọ ,Gs Phổ, Gs Thiệu. Uống cà phê xong, họ kéo nhau đi thăm các thư viện và bảo tàng mang tên cố Tổng Thống Nixon, Reagan.
Là một trong không nhiều tay sưu tập đồ cổ của VN, anh Đỗ duy Ngọc mang cái sở thích sưu tầm những thứ mình thích, chớ không phải trữ những thứ cổ để buôn bán hầu hái ra tiền. Nên anh nói chưa có bán món nào cả, “cứ thấy lạ, cổ lổ sĩ hoặc tân thời, là mua về cất. Mua không nổi thì tìm đến xem cũng thích thú lắm rồi !”
-Thế mà tôi ở đây đọc báo từng thuật chuyện bên VN, nói anh là vua đồng hồ, vua lồng chim, có thực chăng ?
Tay sưu tập có bộ râu nửa đen nửa bạc trắng này cười nhỏ nhẹ: “Các báo mến mình, nói lên vậy thôi. Tôi chỉ thu thập được hàng trăm cái đồng hồ các loại xưa nay và lồng chim, một số tượng Phật, ché rượu, chén trà,đồ ngà ngọc linh tinh...”
Nghe chén trà, tôi chộp ngay: “có chén nào thuộc tầm cỡ bộ chén cổ uống rượu của Tổ Thiên Thu từng khoe trước mặt Đào Cốc Lục Tiên khoang thuyền chở Lệnh Hồ Xung trên giòng sông Hoàng Hà không ?”
Tay chơi đồ cổ vừa từ Saigon đến cười: “-họa hoằn ông văn sĩ Kim Dung mới có đủ trong thiên Tiếu Ngạo Giang Hồ !”.
Được yêu cầu, anh Ngọc rút trong túi ra cái DVD loại bỏ túi từng mua trên đường du lịch Nhật Bản năm trước. Anh bật cho tôi xem một phần gia sản đồ cổ của anh đang được bảo tàng tại tư thất là một căn nhà 3 tầng, mỗi tầng rộng 200 mét vuông tại thành phố Saigon. Tôi say sưa ngắm các loại đồng hồ qua lắc phát ra đủ thứ âm thanh như đang lạc vào lễ hội một buôn làng nào đó của người cổ sơ châu Phi từng xem đâu đó trong phim: Tiếng gõ kinh kông như tiếng cồng, tiếng đàn thánh thót như dương cầm hòa lẫn tiếng chim hót,tiếng gà gáy o o, tiếng lạch cạch, tiếng cụng ly, hay tiếng kẻng leng ken!. Mỗi loại đồng hồ cổ phát ra một âm thanh riêng, mà mình không thể nào có dịp bước chân vào các phòng khách căn nhà trưởng giả, quí phái thời xưa để thấy được những chiếc đồng hồ quí hiếm. Tất cả được lên giây cót, chứ thuở xưa mấy trăm năm về trước làm gì có cục pin” để thay. Liếc nhìn qua người khách lạ vừa viếng Little Saigon, tôi thấy anh Ngọc xem lại bộ sưu tập của mình (chắc là đến lần thứ...mấy mươi rồi) với ánh mắt say sưa, mê mẩn như ánh mắt thời mình thanh niên chiếu tướng một bóng hồng lần đầu gặp trong đời mà...hợp nhãn.
Anh cho xem hình ảnh bộ sưu tập lồng chim. Cái thú chơi lồng chim, tôi mới biết lần đầu. Tay chơi đồ cổ gật gù khi tôi hỏi: “liệu có cái lồng nào cổ xưa cỡ thế kỷ không?”, rồi cho biết thêm: “Có chiếc lồng hơn hai trăm năm xưa đó, anh à !”. Từ ngạc nhiên chất tre xưa sao mà giữ được bền lâu không mối mọt gậm nhấm, đến những đồ trang sức lỉnh kỉnh lạ mắt đính tòn teng quanh lồng, ngay trong lồng, tôi được biết tên của vài thứ lồng anh Ngọc sưu tập: đó là lồng chim kiểu Võ Tòng đả hổ, lồng Thập Bát La hán, lồng Bách hầu, .v.v. (tên đặt tùy theo hình hay vật chạm khắc bằng ngà voi trang trí trong lồng: Thập Bát tạc 108 vị la hán trong võ Thiếu Lâm, bách hầu tạc 100 con khỉ đùa giỡn trên rừng !..)
Tôi cứ ngỡ lồng chim nào có sơn son thếp vàng như đồ mộc trong hoàng cung, là quí hiếm. Họa sĩ Ngọc cho biết, anh có nhiều lồng chim cổ vài trăm năm, mà thuần túy làm bằng tre. Giá trị hơn, lồng kèm theo những vật trang trí bằng ngà voi được đẽo, chạm khắc tỉ mỉ của các nghệ nhân đời trước. Ngay cái chậu đựng thức ăn cho chim, cũng bằng ngà voi thứ thiệt. Tôi đoán, có lẽ loại lồng này nguyên thủy dành cho giới hoàng gia hay quan quyền, điền chủ thuở xưa chơi, chứ dân giả làm gì vói tới.Mà nếu có, làm sao tránh được trộm đạo viếng nhà.
Một trong những thân hữu tiếp đón tay họa sĩ chơi đồ cổ này tới Quận Cam, giáo sư Lê đình Thọ mô tả: “Tôi đã có dịp thăm ngôi nhà họa sĩ Ngọc, và quả thực thấy đó là nơi tồn trữ đồ cổ trong cảnh trí thơ mộng, tịch lặng nhuốm hương vị thiền. Căn nhà số 129 B đường Nguyễn đình Chính này được giới yêu nghệ thuật biết tới, bởi nhiều bài báo Saigon đã giới thiệu rồi. Vừa bước vô sân yên ắng, lòng mình thấy thanh thản khi nhìn hồ nước và con suối nhỏ chảy róc rách, tai nghe tiếng chim hót líu lo như chào khách.Chim thì chim thiệt, mà lồng thì lồng quí hiếm thời cổ xưa. Vào phòng khách, tôi nhìn mọi thứ trang trí toàn là đồ cổ, ngoại trừ các bức tranh sơn dầu là tác phẩm của Ngọc mới vẽ mươi năm lại đây. Tràng kỹ, kệ, tủ, đều là thứ cổ lỗ sỉ ! Bình hoa bằng sứ,chén, bình trà rượu cũng cổ, có cái từ thuở đời Khang Hy. Hàng loạt kiểu đồng hồ được chưng trước mắt, và khi bước lên lầu, mỗi bậc thang có treo một loại đồng hồ xưa đẹp mắt, lạ lùng. Trong nhiều thứ đồ cổ được sưu tầm, tôi nhận thấy họa sĩ Ngọc có nhiều đồng hồ nhất, nên người ta thường gọi đùa anh ta là ông... Vua Đồng Hồ cũ.”
Vì thời gian tiếp xúc không nhiều, (họa sĩ Ngọc còn phải đi tới các viện bảo tàng nổi tiếng để xem...đồng hồ, coi các bậc vương giả Mỹ chơi đồng hồ thứ gì, hiệu Thụy Sĩ hay Pháp, Anh,Mỹ, còn theo ông thầy cũ Lê đình Thọ lùng tìm đồ cổ bị vô tình đem bán garage sale hay trong các chợ trời Cali), nên tôi chỉ phỏng vấn được đôi câu.
-Họa sĩ chơi đồ cổ từ bao giờ rồi ?
-Tôi mê sưu tập từ nhỏ. Lúc niên thiếu, thấy đồng xu là đã để dành. Sau luân lạc rồi thất lạc. Thực sự bắt tay sưu tập đồ cổ chỉ mới 32 năm rồi. Ấy là năm 1974, lúc ấy tôi đang làm cho chương trình phát triển gia cư Quận 8 Saigon. Tôi mê cái lồng chim quí hiếm ấy quá, dám bỏ 4 lượng vàng tậu cho được, và cất đến ngày nay. Sau 1975, cuộc sống thay đổi, nhiều đồ gia bảo được rao bán ngoài lề đường. Nhờ vốn liếng chữ Hán từng học, tôi vớ được những đồ cổ như bình sứ đời Khang Hy, các đồng hồ thời cổ Pháp, bộ tẩu thuốc lá, v.v.trong đó có một khối ngọc Miến Điện chạm trổ chùm hoa. Đẹp tuyệt nhưng thiệt là nặng!
-Vào nghề chơi đồ cổ, anh chuyên trị món nào?
-Tôi thấy cái nào đẹp và quí hiếm, đều chơi tuốt. Thế nên có báo ở Saigon nói tôi là “Người ham chơi lung tung”. Đúng ra, tôi sưu tập đồng hồ nhiều hơn. Anh sẽ thấy, ngắm, và nghe tiếng gõ của đồng hồ, như cảm nhận một linh hồn trong đó, không cái nào giống cái nào, và mỗi âm thanh nó phát ra đều nói lên một tâm hồn, một sở thích, một cá tính!
-Thế dân chơi đồ cổ Saigon có ai sưu tập đồng hồ như anh không?
-Mỗi người một sở thích khác nhau. Trong giới đồ cổ, có người chuyên sưu tầm đồ cổ Huế, có người đồ Tây, có người đồ sứ, có người đồ ngọc. Vài chục người trong giới chúng tôi biết nhau, trao đổi hiểu biết lẫn nhau, ngoài sách vở nghiên cứu.
Người Họa sĩ sống nghề vẽ bìa sách và chơi đồ cổ này có nhiều lúc cạn túi lúc còn là sinh viên giang hồ từ Trung vô Nam. Anh cũng từng ghé vô những quán cơm xã hội của Saigon hồi trước năm 1975, nơi chỉ cần 5 đồng là có bữa cơm ăn no mệt nghỉ. Anh từng qua quán cơm chay xã hội VN Quốc Tự nơi sinh viên miền Trung học trường kỹ thuật Phú Thọ và Vạn Hạnh, Sư Phạm, Văn Khoa thường đáo vào. “Có khi hai người chỉ tốn có một phiếu ăn, là thay nhau cầm khay đi nhận phần ăn cơm xã hội”, anh nhớ lại bước đường thời vận mạt. Cũng có lúc anh làm ông thầy cò (corecter) chữa bản vỗ cho báo Đại Dân Tộc.
“Thế làm sao anh vô làm ông co-rech-tơ được ?”.
Họa sĩ Ngọc đáp: “Nhờ Thầy Thích Mãn Giác giới thiệu, lúc đó tôi là sinh viên Vạn Hạnh, còn Thầy làm phó Viện trưởng. Tôi sẽ thu xếp để xin thăm Thầy, và sẽ tìm thăm vợ chồng họa sĩ Hồ Thành Đức”
-Họa sĩ cùng thời với các họa sĩ Đức và Bé Ký?
-Đâu dám, tôi thuộc khóa đàn em, và chỉ học hai năm mỹ thuật Huế, rồi vô Nam.
Họa sĩ Hồ thành Đức là ân nhân của tôi trong những ngày tập tễnh vẽ tranh để bán dạo trong phố Saigon. Ông và họa sĩ Bé Ký từng cho tôi... mượn khung khi triển lãm tranh, cho nhiều ý kiến hội họa, và đôi lúc tôi buồn quá, ông bà rủ tôi đi uống cà phê!
Họa sĩ Đỗ duy Ngọc nói chỉ thích xem và sưu tập đồ cổ, chứ chưa có ý định bán ra bất cứ vật nào. Ông muốn giữ mãi những thứ mình thích cho riêng mình, mà mừng vì có người con trai là tài tử Huy Khánh, “cũng có máu sưu tập đồ cổ như cha”, anh cười nói.
Hỏi sao lại thích chơi đồng hồ nhiều hơn các thứ khác, anh nói nhỏ như lời thì thầm: “ chơi đồng hồ là chơi với thời gian. Nghe tiếng thời gian, giữ thời gian, níu thời gian lại, để biết giá trị của thời gian,..!”
Tôi có cảm tưởng như anh đang làm thơ. Hỏi ra, họa sĩ Ngọc còn có nhiều giây phút trong cuộc sống dành để làm thơ, và đã xuất bản được ba tập rồi...Trên đường du lịch qua Mỹ tìm đồng hồ quí hiếm, họa sĩ Ngọc tạm trú những ngày đầu tại nhà vị thầy học cũ là Gs Lê đình Thọ, số điện thoại 714-552-2652. Sau đó, ông đi một vài nơi để tìm ...những tiếng gõ tiếng ngân báo hiệu thời gian trôi.!
NGUYỄN HÙNG NHIÊN (CALIFORNIA)
Hình: Nhà văn Nhã Ca và Đỗ Duy Ngọc trước tòa soạn VIỆT BÁO

 

 

 

 

Vietweekly. Khách xa tới quận Cam

HỌA SĨ ĐỖ DUY NGỌC TỚI MỸ DU LỊCH:
"Sự cô đơn ở đây...không hợp với mình"
NGUYỄN QUANG MINH ghi

LTS: Với nhiều đợt người từ Việt Nam ra hải ngoại để du lịch, chọn nơi sống hay làm việc đã mang nhiều tâm trạng khác nhau. Đối với họa sĩ Đỗ Duy Ngọc, trong suốt 5 tuần lễ đến Mỹ để du ngoạn, thăm bạn bè, anh đã dành cho độc giả VietWeekly một cuộc trao đổi ngắn về cái nhìn của anh về con người, cảnh quan ở Mỹ. Đỗ Duy Ngọc hoạt động trong ngành ấn loát, ông cho biết cũng viết báo, vẽ tranh, trình bày sách, và có một cuộc sống, công việc ổn định tại Việt Nam. Anh được giới sành điệu ngưỡng mộ bởi bộ sưu tập đồng hồ của anh (gần 500 chiếc từ thời thế kỷ 17 tới nay)

VW: Xin anh cho biết cảm tưởng của anh, sau thời gian 5 tuần ở Mỹ

ĐDN: Hai ngày nữa tôi về Việt Nam, tôi đến Mỹ đầu tháng 5. Tôi có dịp tiếp xúc với bạn bè cũ có, mới có ở Mỹ, nhiều người thành đạt, và có nhiều người thất bại. Tôi rút ra một điều, là người Việt Nam ở Mỹ với nỗi cô đơn của họ. Người ta chỉ biết đến công việc, sau đó vui thú với gia đình. Việc tiếp xúc với bạn bè, người bên ngoài cũng khó khăn hơn nhiều, so với hoàn cảnh sống ở Việt Nam.
VW: Anh thích gì ở Mỹ ?
ĐDN: Tôi thấy hệ thống đường xá, nhất là xa lộ (freeway) ở Mỹ và tổ chức an sinh xã hội ở Mỹ là tốt nhất
VW: Là một họa sĩ từ Việt Nam sang chơi, anh thấy nghệ thuật tạo hình ở Mỹ ra sao ?
ĐDN: Qua tiếp xúc một số họa sĩ Việt Nam ở Mỹ, tôi thấy sự phát triển về mặt nghề nghiệp không phát triển bằng ở Việt Nam. Có lẽ do số lượng cộng đồng không nhiều. Có thể đời sống khó khăn, nhu cầu tiêu thụ tranh, triển lãm quá ít, nên những sáng tác của họ không phong phú bằng giới tạo hình ở Việt Nam.
VW: Anh có dịp đi xem triển lãm, viện bảo tàng của Mỹ ?
ĐDN: Có, tôi có đi xem nhiều viện bảo tàng tại Washington D.C, các cuộc triển lãm cá nhân của nhiều họa sĩ Mỹ. Tôi ghi nhận là các viện bảo tàng đã có công giữ lại nhiều họa phẩm, tác phẩm nghệ thuật giá trị của thế giới, nhân loại nói chung. Họ rất trân trọng những báu vật giá trị. Rất tiếc ở Việt Nam, do hoàn cảnh khách quan, người nghệ sĩ và giới bảo quản chưa thực hiện đúng mức, đánh giá đúng mức giá trị nghệthuật của dân tộc. Cho nên, nhiều khi, vì giá trị vật chất cơm áo, người nghệ sĩ trong nước phải vẽ, tạo dựng những tác phẩm nặng tính thương mại hơn là thể hiện ước mơ, khát vọng nghệ thuật của mình.
VW: Gặp lại bạn bè cũ, anh thấy họ thay đổi ra sao ?
ĐDN: Tình bạn chắc chắn được giữ lại vì chúng tôi đến với nhau bằng những kỉ niệm. Chúng tôi chia sẻ với nhau những thành công. Nhiều người bạn của tôi trở thành triệu phú Mỹ. Nhưng tôi cũng gặp nhiều người bạn thất bại. Từ chuyện này, tôi tin rằng mỗi người có một số mạng riêng. Nước Mỹ, theo như nhiều người nói, là nơi sử dụng hết tất cả tài năng của anh, là nơi có nhiều cơ hội để tài năng được phát huy. Tuy nhiên, sự thành công dường như lại đi song song với số mạng của mỗi con người. Nhiều người bạn của tôi có tài, nhưng không thành công và ngược lại.
VW: Là một nghệ sĩ tin vào tài năng và cơ hội, anh có nghĩ nước Mỹ sẽ cho anh sự thành công không ?
ĐDN: Tôi không chọn nước Mỹ để định cư vì tôi sợ cô đơn. Tôi thích sống chung quanh có bạn bè. Điểm khác là khí hậu và ẩm thực ở đây không hợp với tôi. Mặc dù tới vùng đông bắc nước Mỹ, tôi thấy phong cảnh đẹp lắm, cây cối, sự trân trọng thiên nhiên, súc vật của người Mỹ thật tuyệt vời, điều này Việt Nam phải học hỏi rất nhiều. Nhưng tôi không thể nào sống ở đây được (cười)
VW: Chuyện Việt Nam sẽ vào WTO, kinh tế Việt Nam sẽ mở rộng cho người trong và hải ngoại có thể đi lại dễ dàng, cơ hội làm ăn cũng như chọn nơi để sống không phải là vấn đề khó khăn như trước, anh có nghĩ là sẽ tìm ra những cơ hội làm ăn tại Mỹ không?
ĐDN: Có chứ, tôi làm nhiều nghề, tôi sáng tác tranh, làm mỹ thuật công nghiệp. Tôi cũng viết bào, làm business. Tôi mong ước sẽ mang được những điều hay từ Mỹ về để áp dụng tại Việt Nam, đồng thời cũng mang những nét văn hóa Việt Nam ra ngoài nước giới thiệu. Trong khả năng của tôi, tôi sẽ cố làm chuyện này. Tôi nghĩ đây không chỉ là ước mơ của riêng tôi, mà của nhiều người khác nữa. Cơ hội Việt Nam vào WTO đã mở ra nhiều tiềm năng, nhiều cơ hội làm ăn rất lớn cho các thương vụ trong lẫn ngoài nước. Tôi nghĩ mình sẽ có dịp đi đi về về để nghiên cứu tạo cơ hội làm ăn cho mình.
VW: Anh có sở thích sưu tập đồng hồ, xin anh cho biết, qua Mỹ, anh có tậu thêm được vài chiếc, bổ sung cho bộ sưu tập (gần 500 cái) của mình không ?
ĐDN: (cười) Tôi có đi thăm nhiều cửa hàng Antique, rất tiếc, tôi chưa tìm ra được thêm chiếc nào phù hợp với ước mơ của mình. Tôi tin rằng mình chưa biết nơi, hay chưa đủ thời gian để lùng sục đúng người, đúng chỗ. Xin hẹn lại kỳ sau vậy.
Hình: Nhà báo Etcetera,Tổng thư ký báo Vietweekly và Đỗ Duy Ngọc trước tòa sọan báo VIETWEEKLY